<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<rss version="2.0" xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/" xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">
	<channel>
		<title><![CDATA[SINHVIENHOAHOC.NET | DIỄN DÀN SVHH - CNTP - Lý Luận Chính Trị]]></title>
		<link>https://dd.sinhvienhoahoc.net/</link>
		<description><![CDATA[SINHVIENHOAHOC.NET | DIỄN DÀN SVHH - CNTP - https://dd.sinhvienhoahoc.net]]></description>
		<pubDate>Sun, 17 May 2026 07:07:48 +0000</pubDate>
		<generator>MyBB</generator>
		<item>
			<title><![CDATA[Tài liệu các môn Mác-Lê_TTHCM]]></title>
			<link>https://dd.sinhvienhoahoc.net/thread-2553.html</link>
			<pubDate>Mon, 07 Mar 2011 10:26:40 +0700</pubDate>
			<dc:creator><![CDATA[<a href="https://dd.sinhvienhoahoc.net/member.php?action=profile&uid=225">vtgiang127</a>]]></dc:creator>
			<guid isPermaLink="false">https://dd.sinhvienhoahoc.net/thread-2553.html</guid>
			<description><![CDATA[Chào mọi người! Đây là một số tài liệu các môn Mác-Lê Nin và Tư tưởng HCM mình sưu tầm từ nhiều nguồn khác nhau. Hi vong sẽ có ích với mọi người!<br />
link tải về: <a href="http://sinhvienhoahoc.net/diendan/link.php?url=http%3A%2F%2Fwww.mediafire.com%2F%3Fd792vm275uatsox" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">http://www.mediafire.com/?d792vm275uatsox</a><br />
Chúc mọi người học tốt!:kaka:]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[Chào mọi người! Đây là một số tài liệu các môn Mác-Lê Nin và Tư tưởng HCM mình sưu tầm từ nhiều nguồn khác nhau. Hi vong sẽ có ích với mọi người!<br />
link tải về: <a href="http://sinhvienhoahoc.net/diendan/link.php?url=http%3A%2F%2Fwww.mediafire.com%2F%3Fd792vm275uatsox" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">http://www.mediafire.com/?d792vm275uatsox</a><br />
Chúc mọi người học tốt!:kaka:]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[Bộ tiểu luận mac lenin đầy đủ nhất]]></title>
			<link>https://dd.sinhvienhoahoc.net/thread-2323.html</link>
			<pubDate>Sat, 18 Dec 2010 17:18:13 +0700</pubDate>
			<dc:creator><![CDATA[<a href="https://dd.sinhvienhoahoc.net/member.php?action=profile&uid=3027">nguyenducha</a>]]></dc:creator>
			<guid isPermaLink="false">https://dd.sinhvienhoahoc.net/thread-2323.html</guid>
			<description><![CDATA[<span style="font-size: 5pt;" class="mycode_size">Toàn bộ tiểu luận mình sưu tầm được trên mạng</span><br />
<br />
<span style="font-size: 6pt;" class="mycode_size">Tại website: <a href="http://www.tailieu.cz.cc" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">http://www.tailieu.cz.cc</a></span><br />
<br />
<br />
    Download toàn bộ tiểu luận mác lênin <a href="http://www.ziddu.com/download/13021354/tailieu._cz_cc_tieuluan_triethoc.rar.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">tại đây</a><br />
<br />
hoặc: <blockquote class="mycode_quote"><cite>Trích dẫn:</cite><a href="http://tailieu.cz.cc/Tieu-luan-macleni-full_7662/" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">http://tailieu.cz.cc/Tieu-luan-macleni-full_7662/</a></blockquote>
<br />
<span style="font-size: 5pt;" class="mycode_size">Dưới đây là toàn bộ đề tài :  Nhấn Crtl + F tìm đề tài của mình: </span><br />
<br />
<br />
<br />
1  <a href="http://www.ziddu.com/download/13007028/T001.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Bản sắc dân tộc trong nền KT mở</a><br />
2  <a href="http://www.ziddu.com/download/13007032/T002.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Đấu tranh giai cấp</a><br />
3  <a href="http://www.ziddu.com/download/13007035/T003.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Công pháp và tư pháp trong hiến pháp TBCN</a><br />
4 <a href="http://www.ziddu.com/download/13007031/T004.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url"> LLSX và các quan hệ SX</a><br />
5  <a href="http://www.ziddu.com/download/13007033/T005.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Lý luận của chủ nghĩa Mác con người và vấn đề con người trong sự nghiệp CNH - HĐH đất nước</a><br />
6  <a href="http://www.ziddu.com/download/13007037/T006.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Quan điểm của chủ nghĩa Mác về con người</a><br />
7  <a href="http://www.ziddu.com/download/13007034/T007.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Lý luận nhận thức, vận dụng quan điểm đó cho sự phát triển của KT VN trước và sau mười năm đổi mới đến nay</a><br />
8  <a href="http://www.ziddu.com/download/13007030/T008.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Lý luận thực tiễn và sự vận dụng quan điểm đó vào quá trình đổi mới ở VN</a><br />
9  <a href="http://www.ziddu.com/download/13007029/T009.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Mâu thuẫn biện chứng trong quá trình XD nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN ở VN</a><br />
10  <a href="http://www.ziddu.com/download/13007036/T010.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Máy móc đạt công nghiệp và vai trò của nó đối với VN<br />
</a><br />
<br />
<br />
<br />
<br />
11  <a href="http://www.ziddu.com/download/13007148/T011.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến</a><br />
12  <a href="http://www.ziddu.com/download/13007145/T012.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">LLSX, QHSX và quy luật SX phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của LLSX</a><br />
13  <a href="http://www.ziddu.com/download/13007141/T013.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Cơ sở lý luận về chuyển đổi nền KTTT</a><br />
14  <a href="http://www.ziddu.com/download/13007142/T014.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Quan hệ biện chứng giữa sự phát triển của LLSX và sự đa dạng hoá các loại hình sở hữu ở VN</a><br />
15  <a href="http://www.ziddu.com/download/13007144/T015.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Quan hệ lượng - chất, nhân - quả và thực trạng của nền KT VN trước xu thế toàn cầu hoá</a><br />
16  <a href="http://www.ziddu.com/download/13007150/T016.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Con người dưới góc nhìn của triết học và vấn đề con người trong quá trình đổi mới hiện nay</a><br />
17  <a href="http://www.ziddu.com/download/13007147/T017.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Việc làm, thất nghiệp và lạm phát </a><br />
18  <a href="http://www.ziddu.com/download/13007146/T018.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Vấn đề đổi mới LLSX và QHSX trong quá trình CNH - HĐH ở VN</a><br />
19  <a href="http://www.ziddu.com/download/13007143/T019.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Tín dụng, cơ sở lý luận và thực tiễn tại VN</a><br />
20  <a href="http://www.ziddu.com/download/13007149/T020.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Nhưng tư tưởng cơ bản của nho giáo và sự ảnh hưởng của nó tới nước ta<br />
</a><br />
<br />
<br />
<br />
<br />
<br />
21  <a href="http://www.ziddu.com/download/13007178/T021.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Sinh viên và thất nghiệp</a><br />
22  <a href="http://www.ziddu.com/download/13007170/T022.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Tri thức và nền KT tri thức</a><br />
23  <a href="http://www.ziddu.com/download/13007174/T023.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url"> Phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến</a><br />
24  <a href="http://www.ziddu.com/download/13007177/T024.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Cuộc cách mạng triết học của Mác - Ănghen và ý nghĩa</a><br />
25 <a href="http://www.ziddu.com/download/13007172/T025.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Vận dụng lý luận phương thức SX phân tích sự phát triển của nhà máy nước Rạng Đông</a><br />
26  <a href="http://www.ziddu.com/download/13007171/T026.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả</a><br />
27  <a href="http://www.ziddu.com/download/13007179/T027.Doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Các phép biện chứng</a><br />
28  <a href="http://www.ziddu.com/download/13007173/T028.Doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Phật giáo và ảnh hưởng của nó tới VN</a><br />
29  <a href="http://www.ziddu.com/download/13007175/T029.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Phật giáo, quá trình hình thành và phát triển</a><br />
30 <a href="http://www.ziddu.com/download/13007176/T030.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url"> KTTT theo định hướng XHCN </a><br />
<br />
<br />
<br />
<br />
31  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020584/T031.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Thành tựu và hạn chế của phép duy vật biện chứng</a><br />
32  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020586/T032.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Phân tích thực chất cuộc cách mạng triết học của Mác - Ănghen và ý nghĩa</a><br />
33 <a href="http://www.ziddu.com/download/13020588/T033.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url"> Giai cấp CN và vai trò của Đảng cộng sản đối với sự phát triển của CNXH</a><br />
34  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020590/T034.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Một số vấn đề thực tiễn và cơ sở lý luận đối với quá trình CNH - HĐH ở VN</a><br />
35  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020591/T035.Doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Con người và các mối quan hệ</a><br />
36  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020589/T036.DOC.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Vai trò của con người trong công cuộc CNH - HĐH đất nước</a><br />
37  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020582/T037.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Ý thức và vai trò của ý thức trong đời sống XH</a><br />
38  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020583/T038.DOC.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Văn hoá kinh doanh dưới cái nhìn triết học</a><br />
39  C<a href="http://www.ziddu.com/download/13020585/T039.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">ơ hội và thách thức của các doanh nghiệp VN trong quá trình hội nhập</a><br />
40  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020587/T040.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Vấn đề thất nghiệp của sinh viên </a><br />
<br />
<br />
<br />
<br />
<br />
<br />
41  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020628/T041.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Con người và bản chất</a><br />
42  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020633/T042.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Hình thái KTXH</a><br />
43  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020627/T043.DOC.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Ý thức, tri thức và vai trò</a><br />
44  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020629/T044.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức</a><br />
45  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020631/T045.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Thực trạng giao thông và nguyên nhân</a><br />
46  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020630/T046.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Vật chất và ý thức</a><br />
47  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020625/T047.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">CNH - HĐH và vai trò của nó trong quá trình tiến lên CNXH ở nước ta</a><br />
48  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020634/T048.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">CNH - HĐH và vai trò của nó trong quá trình tiến lên CNXH ở nước ta</a><br />
49  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020632/T049.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Mâu thuẫn và vấn đề XD nền KT độc lập, tự chủ</a><br />
50  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020626/T050.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Quan điểm toàn diện và vận dụng CNH - HĐH</a><br />
<br />
<br />
<br />
<br />
51  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020680/T051.Doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Quan điểm lịch sử cụ thể đối với quá trình phát triển KT</a><br />
52  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020673/T052.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Quy luật sự thống nhất biện chứng giữa các mặt đối lập</a><br />
53  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020675/T053.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Mâu thuẫn biện chứng và biểu hiện</a><br />
54  <a href="http://%20http://www.ziddu.com/download/13020678/T054.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Phép biện chứng duy vật và vấn đề phát triển KT</a><br />
55  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020682/T055.Doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Phật giáo</a><br />
56  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020679/T056.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến</a><br />
57  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020681/T057.Doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Phật giáo qua các giai đoạn</a><br />
58  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020677/T058.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Địa vị pháp lí của các cơ quan hành chính trong bộ máy nhà nước</a><br />
59  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020676/T059.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Quy luật giá trị và vai trò của nó trong nền KTTT</a><br />
60  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020674/T060.DOC.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Những mâu thuẫn biện chứng trong nền KTTT theo định hướng XHCN ở VN</a><br />
<br />
<br />
<br />
<br />
61  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020703/T061.DOC.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng</a><br />
62  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020706/T062.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Nguyên lí về mối liên hệ phổ biến và thực tiễn</a><br />
63  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020705/T063.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Thực trạng giao thông, nguyên nhân và giải pháp (quan hệ nhân quả)</a><br />
64  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020697/T064.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Mối quan hệ giữa cái riêng và cái chung và vận dụng cho sự phát triển KTTT ở nước ta</a><br />
65  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020701/T065.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến</a><br />
66  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020698/T066.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Ô nhiễm môi trường</a><br />
67  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020702/T067.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Kiến trúc Hà Nội</a><br />
68  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020704/T068.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">CNH - HĐH, thực trạng và giải pháp</a><br />
69  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020700/T069.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">CNH - HĐH dưới góc nhìn triết học</a><br />
70  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020699/T070.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Tư duy lí luận</a><br />
<br />
<br />
<br />
<br />
<br />
71  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020717/T071.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Lý luận về hình thái KT</a><br />
72  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020713/T072.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Lý luận về hình thái KT</a><br />
73  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020719/T073.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">CNH - HĐH và vai trò của nó trong quá trình tiến lên CNXH ở nước ta</a><br />
74  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020721/T074.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Sự phù hợp của quan hệ SX và sự phát triển của LLSX</a><br />
75  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020718/T075.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Học thuyết về hình thái KTXH</a><br />
76 <a href="http://www.ziddu.com/download/13020720/T076.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url"> Vai trò của khoa học kĩ thuật đối với sự phát triển của LLSX</a><br />
77  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020716/T077.Doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Những mâu thuẫn biện chứng trong nền KTTT theo định hướng XHCN ở VN</a><br />
78  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020715/T078.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Cơ sở lí luận triết học của quá trình CNH - HĐH theo định hướng XHCN ở VN</a><br />
79  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020712/T080.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Quan hệ SX phù hợp</a><br />
80  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020714/T079.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Cơ sở lí luận triết học của quá trình CNH - HĐH theo định hướng XHCN ở VN</a><br />
<br />
<br />
<br />
<br />
81  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020726/T081.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">VN trong xu thế hội nhập dưới con mắt triết học</a><br />
82  <a href="http://%20http://www.ziddu.com/download/13020731/T082.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Nền KTTT và phạm trù nội dung - hình thức</a><br />
83  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020730/T083.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Thực trạng của vấn đề xe Bus và giải pháp</a><br />
84  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020724/T084.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Nhân tố con người trong sự phát triển LLSX và chiến lược đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao</a><br />
85  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020732/T085.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">VN trong xu thế hội nhập dưới con mắt triết học</a><br />
86  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020729/T086.Doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Nguyên lí hình thái kinh tế và ảnh hưởng của nó trong hoạt động ngân hàng</a><br />
87  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020723/T087.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Quan hệ biện chứng giữa tự nhiên và XH </a><br />
88  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020728/T088.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Cơ sở lí luận khoa học phát triển không ngừng và cách mạng KHCN</a><br />
89 <a href="http://www.ziddu.com/download/13020725/T089.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url"> Phạm trù nội dung - hình thức và sự phát triển thương hiệu</a><br />
90  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020727/T090.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Mối quan hệ giữa cá nhâ và XH</a><br />
<br />
<br />
<br />
<br />
<br />
91  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020753/T091.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Thực tiễn là tiêu chuẩn chân lý</a><br />
92  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020744/T092.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Con người và nhân tố con người trong sự phát triển nền KT tri thức</a><br />
93  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020746/T093.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Những nét lịch sử cơ bản của sự hình thành phép biện chứng</a><br />
94  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020751/T094.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Nguyên lí về mối liên hệ phổ biến và sự phát triển phép biện chứng duy vật</a><br />
95  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020750/T095.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Mối quan hệ giữa sự phân công lao động XH và XH hoá SX qua một số tác phẩm thời kì đầu của Mác</a><br />
96  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020752/T096.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Tôn giáo</a><br />
97  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020747/T097.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Sự khác biệt giữa triết học phương Đông và phương Tây</a><br />
98  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020745/T098.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">LLSX và QHSX</a><br />
99  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020748/T099.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Mối quan hệ giữa sự phân công lao động XH và XH hoá SX qua một số tác phẩm thời kì đầu của Mác</a><br />
100  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020749/T100.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Mối quan hệ giữa TBCN và người lao động</a><br />
<br />
<br />
<br />
<br />
101  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020769/T101.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Phát triển và sử dụng nguồn nhân lực</a><br />
102  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020765/T102.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Biện chứng của sự phát triển nền KT nhiều thành phần ở VN trong thời kì quá độ lên CNXH</a><br />
103  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020761/T103.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Quan điểm toàn diện trong sự đổi mới nền KT ở VN</a><br />
104  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020768/T104.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Mâu thuẫn biện chứng và sự thống nhất giữa các mặt đối lập</a><br />
105  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020763/T105.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Mối quan hệ biện chứng giữa TLSX và LLSX</a><br />
106  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020770/T106.DOC.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Quan hệ biện chứng giữa LLSX và QHSX</a><br />
107  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020762/T107.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Quá trình phát triển của phép biện chứng</a><br />
108  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020767/T108.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Phép biện chứng và tư duy biện chứng</a><br />
109  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020764/T109.DOC.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Lý luận hình thái KTXH</a><br />
110  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020766/T110.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Phật giáo</a><br />
<br />
<br />
<br />
<br />
111  <a href="http://%20http://www.ziddu.com/download/13020781/T111.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Sinh viên và thất nghiệp</a><br />
112  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020776/T112.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Hôn nhân dưới cái nhìn triết học</a><br />
113  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020774/T113.DOC.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Hình thái KTXH</a><br />
114  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020783/T114.DOC.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Hình thái KTXH</a><br />
115  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020780/T115.DOC.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức</a><br />
116  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020778/T116.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Quy luật mâu thuẫn</a><br />
117  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020777/T117.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Lý luận hình thái KTXH</a><br />
118 <a href="http://www.ziddu.com/download/13020782/T118.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url"> Sự thống nhất giữa bản chất và hiện tượng</a><br />
119  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020779/T119.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Quy luật lượng - chất</a><br />
120  C<a href="http://www.ziddu.com/download/13020775/T120.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">NH - HĐH ở VN trong thời kỳ quá độ</a><br />
<br />
<br />
<br />
<br />
<br />
<br />
121  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020791/T121.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">CNH - HĐH nông thôn ở nước ta</a><br />
122  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020796/T122.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">CNH - HĐH</a><br />
123  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020799/T123.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Đào tạo nguồn lực con người</a><br />
124  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020797/T124.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Hình thái KTXH</a><br />
125  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020794/T125.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Đào tạo nguồn lực con người</a><br />
126  <a href="http://%20http://www.ziddu.com/download/13020795/T126.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Quá trình chuyển đổi sang nền KTTT và sự vận dụng quan điểm triết học Mác - Lênin</a><br />
127  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020792/T127.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Nho giáo</a><br />
128  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020790/T128.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Mối liên hệ biện chứng giữa các thành phần KT</a><br />
129  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020793/T129.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Quan điểm của Mác - Ănghen về vật chất</a><br />
130  <a href="http://%20http://www.ziddu.com/download/13020798/T130.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Nhân cách và nhận thức</a><br />
<br />
<br />
Liên hệ: ducha_2010<br />
Email: <a href="mailto:nguyenduchalamweb@gmail.com" class="mycode_email">nguyenduchalamweb@gmail.com</a><br />
<a href="http://www.tailieu.cz.cc" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">http://www.tailieu.cz.cc</a><br />
<br />
Mình sẽ tiếp tục sưu tầm và post lên tiếp]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<span style="font-size: 5pt;" class="mycode_size">Toàn bộ tiểu luận mình sưu tầm được trên mạng</span><br />
<br />
<span style="font-size: 6pt;" class="mycode_size">Tại website: <a href="http://www.tailieu.cz.cc" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">http://www.tailieu.cz.cc</a></span><br />
<br />
<br />
    Download toàn bộ tiểu luận mác lênin <a href="http://www.ziddu.com/download/13021354/tailieu._cz_cc_tieuluan_triethoc.rar.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">tại đây</a><br />
<br />
hoặc: <blockquote class="mycode_quote"><cite>Trích dẫn:</cite><a href="http://tailieu.cz.cc/Tieu-luan-macleni-full_7662/" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">http://tailieu.cz.cc/Tieu-luan-macleni-full_7662/</a></blockquote>
<br />
<span style="font-size: 5pt;" class="mycode_size">Dưới đây là toàn bộ đề tài :  Nhấn Crtl + F tìm đề tài của mình: </span><br />
<br />
<br />
<br />
1  <a href="http://www.ziddu.com/download/13007028/T001.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Bản sắc dân tộc trong nền KT mở</a><br />
2  <a href="http://www.ziddu.com/download/13007032/T002.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Đấu tranh giai cấp</a><br />
3  <a href="http://www.ziddu.com/download/13007035/T003.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Công pháp và tư pháp trong hiến pháp TBCN</a><br />
4 <a href="http://www.ziddu.com/download/13007031/T004.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url"> LLSX và các quan hệ SX</a><br />
5  <a href="http://www.ziddu.com/download/13007033/T005.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Lý luận của chủ nghĩa Mác con người và vấn đề con người trong sự nghiệp CNH - HĐH đất nước</a><br />
6  <a href="http://www.ziddu.com/download/13007037/T006.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Quan điểm của chủ nghĩa Mác về con người</a><br />
7  <a href="http://www.ziddu.com/download/13007034/T007.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Lý luận nhận thức, vận dụng quan điểm đó cho sự phát triển của KT VN trước và sau mười năm đổi mới đến nay</a><br />
8  <a href="http://www.ziddu.com/download/13007030/T008.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Lý luận thực tiễn và sự vận dụng quan điểm đó vào quá trình đổi mới ở VN</a><br />
9  <a href="http://www.ziddu.com/download/13007029/T009.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Mâu thuẫn biện chứng trong quá trình XD nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN ở VN</a><br />
10  <a href="http://www.ziddu.com/download/13007036/T010.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Máy móc đạt công nghiệp và vai trò của nó đối với VN<br />
</a><br />
<br />
<br />
<br />
<br />
11  <a href="http://www.ziddu.com/download/13007148/T011.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến</a><br />
12  <a href="http://www.ziddu.com/download/13007145/T012.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">LLSX, QHSX và quy luật SX phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của LLSX</a><br />
13  <a href="http://www.ziddu.com/download/13007141/T013.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Cơ sở lý luận về chuyển đổi nền KTTT</a><br />
14  <a href="http://www.ziddu.com/download/13007142/T014.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Quan hệ biện chứng giữa sự phát triển của LLSX và sự đa dạng hoá các loại hình sở hữu ở VN</a><br />
15  <a href="http://www.ziddu.com/download/13007144/T015.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Quan hệ lượng - chất, nhân - quả và thực trạng của nền KT VN trước xu thế toàn cầu hoá</a><br />
16  <a href="http://www.ziddu.com/download/13007150/T016.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Con người dưới góc nhìn của triết học và vấn đề con người trong quá trình đổi mới hiện nay</a><br />
17  <a href="http://www.ziddu.com/download/13007147/T017.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Việc làm, thất nghiệp và lạm phát </a><br />
18  <a href="http://www.ziddu.com/download/13007146/T018.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Vấn đề đổi mới LLSX và QHSX trong quá trình CNH - HĐH ở VN</a><br />
19  <a href="http://www.ziddu.com/download/13007143/T019.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Tín dụng, cơ sở lý luận và thực tiễn tại VN</a><br />
20  <a href="http://www.ziddu.com/download/13007149/T020.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Nhưng tư tưởng cơ bản của nho giáo và sự ảnh hưởng của nó tới nước ta<br />
</a><br />
<br />
<br />
<br />
<br />
<br />
21  <a href="http://www.ziddu.com/download/13007178/T021.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Sinh viên và thất nghiệp</a><br />
22  <a href="http://www.ziddu.com/download/13007170/T022.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Tri thức và nền KT tri thức</a><br />
23  <a href="http://www.ziddu.com/download/13007174/T023.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url"> Phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến</a><br />
24  <a href="http://www.ziddu.com/download/13007177/T024.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Cuộc cách mạng triết học của Mác - Ănghen và ý nghĩa</a><br />
25 <a href="http://www.ziddu.com/download/13007172/T025.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Vận dụng lý luận phương thức SX phân tích sự phát triển của nhà máy nước Rạng Đông</a><br />
26  <a href="http://www.ziddu.com/download/13007171/T026.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả</a><br />
27  <a href="http://www.ziddu.com/download/13007179/T027.Doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Các phép biện chứng</a><br />
28  <a href="http://www.ziddu.com/download/13007173/T028.Doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Phật giáo và ảnh hưởng của nó tới VN</a><br />
29  <a href="http://www.ziddu.com/download/13007175/T029.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Phật giáo, quá trình hình thành và phát triển</a><br />
30 <a href="http://www.ziddu.com/download/13007176/T030.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url"> KTTT theo định hướng XHCN </a><br />
<br />
<br />
<br />
<br />
31  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020584/T031.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Thành tựu và hạn chế của phép duy vật biện chứng</a><br />
32  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020586/T032.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Phân tích thực chất cuộc cách mạng triết học của Mác - Ănghen và ý nghĩa</a><br />
33 <a href="http://www.ziddu.com/download/13020588/T033.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url"> Giai cấp CN và vai trò của Đảng cộng sản đối với sự phát triển của CNXH</a><br />
34  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020590/T034.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Một số vấn đề thực tiễn và cơ sở lý luận đối với quá trình CNH - HĐH ở VN</a><br />
35  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020591/T035.Doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Con người và các mối quan hệ</a><br />
36  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020589/T036.DOC.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Vai trò của con người trong công cuộc CNH - HĐH đất nước</a><br />
37  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020582/T037.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Ý thức và vai trò của ý thức trong đời sống XH</a><br />
38  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020583/T038.DOC.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Văn hoá kinh doanh dưới cái nhìn triết học</a><br />
39  C<a href="http://www.ziddu.com/download/13020585/T039.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">ơ hội và thách thức của các doanh nghiệp VN trong quá trình hội nhập</a><br />
40  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020587/T040.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Vấn đề thất nghiệp của sinh viên </a><br />
<br />
<br />
<br />
<br />
<br />
<br />
41  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020628/T041.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Con người và bản chất</a><br />
42  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020633/T042.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Hình thái KTXH</a><br />
43  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020627/T043.DOC.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Ý thức, tri thức và vai trò</a><br />
44  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020629/T044.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức</a><br />
45  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020631/T045.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Thực trạng giao thông và nguyên nhân</a><br />
46  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020630/T046.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Vật chất và ý thức</a><br />
47  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020625/T047.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">CNH - HĐH và vai trò của nó trong quá trình tiến lên CNXH ở nước ta</a><br />
48  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020634/T048.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">CNH - HĐH và vai trò của nó trong quá trình tiến lên CNXH ở nước ta</a><br />
49  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020632/T049.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Mâu thuẫn và vấn đề XD nền KT độc lập, tự chủ</a><br />
50  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020626/T050.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Quan điểm toàn diện và vận dụng CNH - HĐH</a><br />
<br />
<br />
<br />
<br />
51  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020680/T051.Doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Quan điểm lịch sử cụ thể đối với quá trình phát triển KT</a><br />
52  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020673/T052.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Quy luật sự thống nhất biện chứng giữa các mặt đối lập</a><br />
53  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020675/T053.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Mâu thuẫn biện chứng và biểu hiện</a><br />
54  <a href="http://%20http://www.ziddu.com/download/13020678/T054.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Phép biện chứng duy vật và vấn đề phát triển KT</a><br />
55  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020682/T055.Doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Phật giáo</a><br />
56  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020679/T056.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến</a><br />
57  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020681/T057.Doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Phật giáo qua các giai đoạn</a><br />
58  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020677/T058.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Địa vị pháp lí của các cơ quan hành chính trong bộ máy nhà nước</a><br />
59  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020676/T059.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Quy luật giá trị và vai trò của nó trong nền KTTT</a><br />
60  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020674/T060.DOC.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Những mâu thuẫn biện chứng trong nền KTTT theo định hướng XHCN ở VN</a><br />
<br />
<br />
<br />
<br />
61  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020703/T061.DOC.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng</a><br />
62  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020706/T062.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Nguyên lí về mối liên hệ phổ biến và thực tiễn</a><br />
63  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020705/T063.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Thực trạng giao thông, nguyên nhân và giải pháp (quan hệ nhân quả)</a><br />
64  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020697/T064.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Mối quan hệ giữa cái riêng và cái chung và vận dụng cho sự phát triển KTTT ở nước ta</a><br />
65  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020701/T065.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến</a><br />
66  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020698/T066.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Ô nhiễm môi trường</a><br />
67  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020702/T067.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Kiến trúc Hà Nội</a><br />
68  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020704/T068.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">CNH - HĐH, thực trạng và giải pháp</a><br />
69  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020700/T069.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">CNH - HĐH dưới góc nhìn triết học</a><br />
70  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020699/T070.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Tư duy lí luận</a><br />
<br />
<br />
<br />
<br />
<br />
71  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020717/T071.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Lý luận về hình thái KT</a><br />
72  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020713/T072.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Lý luận về hình thái KT</a><br />
73  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020719/T073.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">CNH - HĐH và vai trò của nó trong quá trình tiến lên CNXH ở nước ta</a><br />
74  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020721/T074.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Sự phù hợp của quan hệ SX và sự phát triển của LLSX</a><br />
75  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020718/T075.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Học thuyết về hình thái KTXH</a><br />
76 <a href="http://www.ziddu.com/download/13020720/T076.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url"> Vai trò của khoa học kĩ thuật đối với sự phát triển của LLSX</a><br />
77  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020716/T077.Doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Những mâu thuẫn biện chứng trong nền KTTT theo định hướng XHCN ở VN</a><br />
78  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020715/T078.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Cơ sở lí luận triết học của quá trình CNH - HĐH theo định hướng XHCN ở VN</a><br />
79  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020712/T080.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Quan hệ SX phù hợp</a><br />
80  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020714/T079.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Cơ sở lí luận triết học của quá trình CNH - HĐH theo định hướng XHCN ở VN</a><br />
<br />
<br />
<br />
<br />
81  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020726/T081.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">VN trong xu thế hội nhập dưới con mắt triết học</a><br />
82  <a href="http://%20http://www.ziddu.com/download/13020731/T082.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Nền KTTT và phạm trù nội dung - hình thức</a><br />
83  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020730/T083.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Thực trạng của vấn đề xe Bus và giải pháp</a><br />
84  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020724/T084.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Nhân tố con người trong sự phát triển LLSX và chiến lược đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao</a><br />
85  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020732/T085.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">VN trong xu thế hội nhập dưới con mắt triết học</a><br />
86  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020729/T086.Doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Nguyên lí hình thái kinh tế và ảnh hưởng của nó trong hoạt động ngân hàng</a><br />
87  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020723/T087.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Quan hệ biện chứng giữa tự nhiên và XH </a><br />
88  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020728/T088.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Cơ sở lí luận khoa học phát triển không ngừng và cách mạng KHCN</a><br />
89 <a href="http://www.ziddu.com/download/13020725/T089.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url"> Phạm trù nội dung - hình thức và sự phát triển thương hiệu</a><br />
90  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020727/T090.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Mối quan hệ giữa cá nhâ và XH</a><br />
<br />
<br />
<br />
<br />
<br />
91  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020753/T091.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Thực tiễn là tiêu chuẩn chân lý</a><br />
92  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020744/T092.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Con người và nhân tố con người trong sự phát triển nền KT tri thức</a><br />
93  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020746/T093.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Những nét lịch sử cơ bản của sự hình thành phép biện chứng</a><br />
94  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020751/T094.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Nguyên lí về mối liên hệ phổ biến và sự phát triển phép biện chứng duy vật</a><br />
95  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020750/T095.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Mối quan hệ giữa sự phân công lao động XH và XH hoá SX qua một số tác phẩm thời kì đầu của Mác</a><br />
96  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020752/T096.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Tôn giáo</a><br />
97  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020747/T097.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Sự khác biệt giữa triết học phương Đông và phương Tây</a><br />
98  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020745/T098.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">LLSX và QHSX</a><br />
99  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020748/T099.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Mối quan hệ giữa sự phân công lao động XH và XH hoá SX qua một số tác phẩm thời kì đầu của Mác</a><br />
100  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020749/T100.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Mối quan hệ giữa TBCN và người lao động</a><br />
<br />
<br />
<br />
<br />
101  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020769/T101.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Phát triển và sử dụng nguồn nhân lực</a><br />
102  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020765/T102.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Biện chứng của sự phát triển nền KT nhiều thành phần ở VN trong thời kì quá độ lên CNXH</a><br />
103  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020761/T103.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Quan điểm toàn diện trong sự đổi mới nền KT ở VN</a><br />
104  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020768/T104.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Mâu thuẫn biện chứng và sự thống nhất giữa các mặt đối lập</a><br />
105  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020763/T105.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Mối quan hệ biện chứng giữa TLSX và LLSX</a><br />
106  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020770/T106.DOC.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Quan hệ biện chứng giữa LLSX và QHSX</a><br />
107  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020762/T107.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Quá trình phát triển của phép biện chứng</a><br />
108  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020767/T108.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Phép biện chứng và tư duy biện chứng</a><br />
109  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020764/T109.DOC.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Lý luận hình thái KTXH</a><br />
110  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020766/T110.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Phật giáo</a><br />
<br />
<br />
<br />
<br />
111  <a href="http://%20http://www.ziddu.com/download/13020781/T111.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Sinh viên và thất nghiệp</a><br />
112  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020776/T112.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Hôn nhân dưới cái nhìn triết học</a><br />
113  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020774/T113.DOC.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Hình thái KTXH</a><br />
114  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020783/T114.DOC.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Hình thái KTXH</a><br />
115  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020780/T115.DOC.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức</a><br />
116  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020778/T116.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Quy luật mâu thuẫn</a><br />
117  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020777/T117.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Lý luận hình thái KTXH</a><br />
118 <a href="http://www.ziddu.com/download/13020782/T118.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url"> Sự thống nhất giữa bản chất và hiện tượng</a><br />
119  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020779/T119.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Quy luật lượng - chất</a><br />
120  C<a href="http://www.ziddu.com/download/13020775/T120.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">NH - HĐH ở VN trong thời kỳ quá độ</a><br />
<br />
<br />
<br />
<br />
<br />
<br />
121  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020791/T121.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">CNH - HĐH nông thôn ở nước ta</a><br />
122  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020796/T122.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">CNH - HĐH</a><br />
123  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020799/T123.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Đào tạo nguồn lực con người</a><br />
124  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020797/T124.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Hình thái KTXH</a><br />
125  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020794/T125.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Đào tạo nguồn lực con người</a><br />
126  <a href="http://%20http://www.ziddu.com/download/13020795/T126.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Quá trình chuyển đổi sang nền KTTT và sự vận dụng quan điểm triết học Mác - Lênin</a><br />
127  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020792/T127.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Nho giáo</a><br />
128  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020790/T128.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Mối liên hệ biện chứng giữa các thành phần KT</a><br />
129  <a href="http://www.ziddu.com/download/13020793/T129.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Quan điểm của Mác - Ănghen về vật chất</a><br />
130  <a href="http://%20http://www.ziddu.com/download/13020798/T130.doc.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Nhân cách và nhận thức</a><br />
<br />
<br />
Liên hệ: ducha_2010<br />
Email: <a href="mailto:nguyenduchalamweb@gmail.com" class="mycode_email">nguyenduchalamweb@gmail.com</a><br />
<a href="http://www.tailieu.cz.cc" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">http://www.tailieu.cz.cc</a><br />
<br />
Mình sẽ tiếp tục sưu tầm và post lên tiếp]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[duong loi Cach Mang Dang Cong San VN]]></title>
			<link>https://dd.sinhvienhoahoc.net/thread-1228.html</link>
			<pubDate>Tue, 06 Apr 2010 08:10:35 +0700</pubDate>
			<dc:creator><![CDATA[<a href="https://dd.sinhvienhoahoc.net/member.php?action=profile&uid=566">thanhduy892010</a>]]></dc:creator>
			<guid isPermaLink="false">https://dd.sinhvienhoahoc.net/thread-1228.html</guid>
			<description><![CDATA[ai có câu trắc nghiệm đường lối cách mạng Dang CS thì cho mình với . gấp lắm .hic hic .thankx]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[ai có câu trắc nghiệm đường lối cách mạng Dang CS thì cho mình với . gấp lắm .hic hic .thankx]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[đề cương đường lối cách mạng đảng cộng sản việt nam]]></title>
			<link>https://dd.sinhvienhoahoc.net/thread-1218.html</link>
			<pubDate>Mon, 29 Mar 2010 20:13:46 +0700</pubDate>
			<dc:creator><![CDATA[<a href="https://dd.sinhvienhoahoc.net/member.php?action=profile&uid=2">08HH</a>]]></dc:creator>
			<guid isPermaLink="false">https://dd.sinhvienhoahoc.net/thread-1218.html</guid>
			<description><![CDATA[[SIZE=3]<span style="color: Blue;" class="mycode_color">[SIZE=3]<span style="color: Blue;" class="mycode_color">sưu tầm được vài câu tự luận chia sẻ với mọi người nè <img src="https://dd.sinhvienhoahoc.net/images/smilies/smile.png" alt="Smile" title="Smile" class="smilie smilie_1" /><br />
<br />
<br />
                           <span style="text-decoration: underline;" class="mycode_u"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">Đường lối cách mạng cua đảng cộng sản việt nam.</span></span><br />
 <br />
 <br />
 [COLOR=#ff0000]<span style="font-weight: bold;" class="mycode_b"><span style="text-decoration: underline;" class="mycode_u">Câu 1: Những nội dung cơ bản trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Công sản Việt </span></span></span><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b"><span style="text-decoration: underline;" class="mycode_u"><span style="color: black;" class="mycode_color">[COLOR=#ff0000]Nam<br />
<br />
</span></span></span></span>  <span style="color: Black;" class="mycode_color">Tại Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản thành lập một chính đảng duy nhất của Việt Nam - Đảng Cộng sản Việt Nam tại Cửu Long – Hương Cảng (Trung Quốc) được tiến hành trong thời gian từ ngày 6-1-1930 đến ngày 7-2-1930 (sau này tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng ngày 10-9-1960 quyết nghị “từ nay trở đi sẽ lấy ngày 3 tháng 2 dương lịch mỗi năm làm ngày kỷ niệm thành lập Đảng”.   <br />
</span>  <span style="color: Black;" class="mycode_color">Thành phần dự Hội nghị gồm 2 đại biểu của Đông Dương cộng sản Đảng (Trịnh Đình Cửu và Nguyễn Đức Cảnh), 2 đại biểu của An Nam cộng sản Đảng (Châu Văn Liêm và Nguyễn Thiệu), dưới sự chủ trì của Nguyễn ái Quốc-đại diện của Quốc tế Cộng sản. Đại diện của Đông Dương Cộng sản liên đoàn không đến kịp, do vậy đến ngày 24-2-1930 xin gia nhập Đảng Cộng sản Việt </span><span style="color: black;" class="mycode_color"><span style="color: #ffcc00;" class="mycode_color">Nam</span><span style="color: #ffcc00;" class="mycode_color">.  </span><br />
</span>  <span style="color: Black;" class="mycode_color">     - Nội dung Hội nghị: Thông qua các văn kiện do lãnh tụ Nguyễn ái Quốc soạn thảo. Đó là  Chánh cương vắn tắt của Đảng, Sách lược vắn tắt của Đảng, Chương trình tóm tắt, Điều lệ vắn tắt của Đảng Cộng sản Việt </span><span style="color: black;" class="mycode_color"><span style="color: #ffcc00;" class="mycode_color">Nam</span><span style="color: #ffcc00;" class="mycode_color"> . Lấy tên Đảng Cộng sản Việt </span><span style="color: #ffcc00;" class="mycode_color">Nam</span><span style="color: #ffcc00;" class="mycode_color">.</span><br />
</span>  <span style="color: Black;" class="mycode_color">Sau này Chánh cương vắn tắt của Đảng, Sách lược vắn tắt của Đảng được xem là Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt </span><span style="color: black;" class="mycode_color"><span style="color: #ffcc00;" class="mycode_color">Nam</span><span style="color: #ffcc00;" class="mycode_color"><span style="font-style: italic;" class="mycode_i">. </span>Trong đó, đã phản ánh những nội dung cơ bản nhất của sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng con người trên đất nước Việt </span><span style="color: #ffcc00;" class="mycode_color">Nam</span><span style="color: #ffcc00;" class="mycode_color">. </span><br />
</span>  <span style="color: Black;" class="mycode_color"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b"><span style="text-decoration: underline;" class="mycode_u">Những nội dung cơ bản của Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng được Hội nghị thống nhất thông qua là: </span></span><br />
</span>  <span style="color: Black;" class="mycode_color"><span style="text-decoration: underline;" class="mycode_u">1- Khẳng định phươnghướng chiến lược của cách mạng Việt </span><span style="text-decoration: underline;" class="mycode_u">Nam</span></span><span style="color: Black;" class="mycode_color"><span style="text-decoration: underline;" class="mycode_u">. Đó là:</span> "chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản".(Sau này gọi là cách mạng dân tộc dân chủ và cách mạng xã hội chủ nghĩa). Tính chất giai đoạn và lý luận cách mạng không ngừng đã được thể hiện trong Cương lĩnh đầu tiên của Đảng: cách mạng tư sản dân quyền là thời kỳ dự bị để tiên lên cách mạng xã hội chủ nghĩa. Đây là con đường cứu nước mới, khác với những chủ trương, những con đường cứu nước của những nhà yêu nước đương thời đã đi vào bê tắc và thất bại. Như vậy, ngay từ đầu Đảng ta đã tiếp thu và vận dụng sáng tạo lý luận MÁC-LÊNIN vào hoàn cảnh cụ thể của đất nước. Đường lối cơ bản của cách mạng Việt </span><span style="color: black;" class="mycode_color"><span style="color: #ffcc00;" class="mycode_color">Nam</span><span style="color: #ffcc00;" class="mycode_color"> được phản ánh trong Cương lĩnh đã thiện được tư tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghiã xã hội. Việc xác định đúng đắn phương hướng, con đường của cách mạng Việt </span><span style="color: #ffcc00;" class="mycode_color">Nam</span><span style="color: #ffcc00;" class="mycode_color"> ngay từ đầu có ý nghĩa hết sức quan trọng. Đó là ngọn cờ tập hợp lực lượng cách mạng, là cơ sở để giải quyết đứng đắn các vấn đề cơ bản của cách mạng việt </span><span style="color: #ffcc00;" class="mycode_color">Nam</span><span style="color: #ffcc00;" class="mycode_color">.</span><br />
</span>  <span style="color: Black;" class="mycode_color"><span style="text-decoration: underline;" class="mycode_u">2- Nhiệm vụ, mục tiêu cơ bản  <span style="font-style: italic;" class="mycode_i">của cách mạng Việt </span></span><span style="text-decoration: underline;" class="mycode_u"><span style="font-style: italic;" class="mycode_i">Nam</span></span></span><span style="color: Black;" class="mycode_color"><span style="text-decoration: underline;" class="mycode_u"><span style="font-style: italic;" class="mycode_i">, </span>Cương lĩnh chỉ rõ:</span> ''Đánh đố đế quốc chủ nghĩa và bọn phong kiến. Làm cho nước </span><span style="color: black;" class="mycode_color"><span style="color: #ffcc00;" class="mycode_color">Nam</span><span style="color: #ffcc00;" class="mycode_color"> được hoàn toàn độc lập". Tức là nhiệm vụ của cách mạng tư sản dân quyền (sau này gọi là cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân) là chống đế quốc giành độc lập cho dân tộc và chống phong kiến để giành ruộng đất cho dân cày. Trong đó nhiệm vụ chống đế quốc, giải phóng dân tộc là nhiệm vụ được đặt lên hàng đầu.</span><br />
</span>  <span style="color: Black;" class="mycode_color">Xuất phát từ đặc điếm của chế độ thuộc địa nửa phong kiến, đây là hai nhiệm vụ cơ bản của cách mạng Việt </span><span style="color: black;" class="mycode_color"><span style="color: #ffcc00;" class="mycode_color">Nam</span><span style="color: #ffcc00;" class="mycode_color">. Sự kết hợp hai nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến đã khẳng định tính toàn diện, triệt để của đường lối cách mạng Việt </span><span style="color: #ffcc00;" class="mycode_color">Nam</span><span style="color: #ffcc00;" class="mycode_color">. Những nhiệm vụ đó là biểu hiện sinh động của việc kết hợp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội và giải phóng con người trong đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam và lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc.</span><br />
</span>  <span style="color: Black;" class="mycode_color"><span style="text-decoration: underline;" class="mycode_u">3- <span style="font-style: italic;" class="mycode_i">Về lực lượng của cách mạng Việt Nam</span></span><span style="font-style: italic;" class="mycode_i">, </span>phải đoàn kết công nhân, nông dân-đây là lực lượng cơ bản trong đó giai cấp công nhân lãnh đạo; đồng thời Cương lĩnh nêu rõ: "Đảng phải hết sức liên lạc với tiểu tư sản, trí thức, trung nông, Thanh niên, Tân Việt, v.v. đế kéo họ đi vào phe vô sản giai cấp. Còn đối với bọn phú nông, <span style="font-style: italic;" class="mycode_i">trung, tiểu địa chủ </span>và tư bản An Nam mà chưa rõ mặt phản cách mạng thì phải lợi dụng, ít lâu mới làm cho họ đứng trung lập''. Đây là tư tưởng tập hợp lực lượng cách mạng trên cơ sở đánh giá thái độ các giai cấp phù hợp với đặc điểm xã hội Việt </span><span style="color: black;" class="mycode_color"><span style="color: #ffcc00;" class="mycode_color">Nam</span><span style="color: #ffcc00;" class="mycode_color">.</span><br />
</span>  <span style="color: Black;" class="mycode_color">Để thực hiện sự nghiệp giải phóng dân tộc, Cương lĩnh chỉ ra rằng, phải đoàn kết với tất cả các giai cấp, các tầng lớp nhân dân yêu nước. Đó là sự thể hiện quan điểm: cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, nhân dân là người làm nên lịch sử. Đồng thời, Cương lĩnh cũng đã chỉ ra lực lượng chính, động lực chủ yếu của sự nghiệp cách mạng Việt </span><span style="color: black;" class="mycode_color"><span style="color: #ffcc00;" class="mycode_color">Nam</span><span style="color: #ffcc00;" class="mycode_color"> là công nhân và nông dân. Đây là sự thể hiện tính nguyên tắc trong chính sách đại đoàn kết dân tộc và sự sắp xếp, tổ chức lực lượng cách mạng của Đảng ta. Việc tập hợp lực lượng rộng rãi cũng như xác định được động lực chủ yếu, cơ bản của sự nghiệp cách mạng phản ánh sự mềm dẻo và linh hoạt trong chiến lược đại đoàn kết dân tộc của Đảng ta.</span><br />
</span>  <span style="color: Black;" class="mycode_color"><span style="text-decoration: underline;" class="mycode_u">4- <span style="font-style: italic;" class="mycode_i">Về phương pháp </span>cách <span style="font-style: italic;" class="mycode_i">mạng Việt </span></span><span style="text-decoration: underline;" class="mycode_u"><span style="font-style: italic;" class="mycode_i">Nam</span></span></span><span style="color: Black;" class="mycode_color"><span style="text-decoration: underline;" class="mycode_u"><span style="font-style: italic;" class="mycode_i">,</span></span>Cương lĩnh đã khẳng định: phương pháp cách mạng cơ bản của Việt </span><span style="color: black;" class="mycode_color"><span style="color: #ffcc00;" class="mycode_color">Nam</span><span style="color: #ffcc00;" class="mycode_color"> là dùng sức mạnh tổng hợp của quần chúng nhân dân để đánh đổ đế quốc phong kiến, đó là bạo lực cách mạng. Phương pháp bạo lực cách mạng được nêu lên với những biểu hiện cụ thể: đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến, đánh đổ các đảng phản cách mạng như Đảng Lập hiến, đánh trúc bọn đại địa chủ và phong kiến. Chính sự thất bại của khuynh hướng cải lương hoà bình ở Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX đã cho thấy cách mạng muốn giành thắng lợi, không có con đường nào khác là phải sử dụng bạo lực cách mạng. Việc nêu lên phương pháp cách mạng bạo lực trong sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta đã thể hiện sự thấm nhuần và tiếp thu tư tưởng cách mạng bạo lực của chủ nghĩa MÁC-LÊNIN.</span><br />
</span>  <span style="color: Black;" class="mycode_color">5- Xác định vai trò của Đảng Cộng sản Việt </span><span style="color: black;" class="mycode_color"><span style="color: #ffcc00;" class="mycode_color">Nam</span><span style="color: #ffcc00;" class="mycode_color"> là đội tiên phong của giai cấp công nhân, phải thu phục và lãnh đạo được dân chúng.</span><br />
</span>  <span style="color: Black;" class="mycode_color">Để thực hiện thành công sự nghiệp cách mạng, Cương lĩnh đã khẳng định vai trò quyết định của Đảng: Đảng là đội tiên phong của vô sản giai cấp. Để lám tròn sứ mệnh lịch sử là nhân tố tiên phong quyết đinh thắng lơi của cách mạng Việt </span><span style="color: black;" class="mycode_color"><span style="color: #ffcc00;" class="mycode_color">Nam</span><span style="color: #ffcc00;" class="mycode_color">, Đảng phải: "thu phục cho được đại bộ phận giai cấp mình, phải làm cho giai cấp mình lãnh đạo được dân chúng". Khẳng định bản chất giai cấp của Đảng, vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân và chiến lược đại đoàn kết dân tộc trên cơ sở liên minh công - nông là những vấn đế then chốt bảo đảmcho Đảng ta trở thành<span style="font-style: italic;" class="mycode_i"> nhân tố duy nhất lãnh đạo cách mạng Việt </span></span><span style="font-style: italic;" class="mycode_i"><span style="color: #ffcc00;" class="mycode_color">Nam</span><span style="color: #ffcc00;" class="mycode_color">. Cương lĩnh cũng nêu lên sự gắn bó, quan hệ máu thịt giữa Đảng với quần chúng. Đây là điều kiện tạo cho Đảng có nguồn súc mạnh vĩ đại và trở thành lãnh tụ chính trị cho cả dân tộc. Sự lãnh đạo của.Đảng là yếu tố quyết định nhất cho thắng lợi của cách mạng Việt </span><span style="color: #ffcc00;" class="mycode_color">Nam</span><span style="color: #ffcc00;" class="mycode_color">.</span></span><br />
</span>  <span style="color: Black;" class="mycode_color"><span style="text-decoration: underline;" class="mycode_u">6- Phát huy tinh thần tự lực tự cường,</span> đồng thời tranh thủ sự đoàn kết, ủng hộ của các dân tộc bị áp bức và giai cấp vô sản thế giới, nhất là giai cấp vô sản Pháp.<br />
</span>  <span style="color: Black;" class="mycode_color"><span style="font-style: italic;" class="mycode_i">Vấn đề đoàn kết quốc tế cũng là một nội dung quan trọng của Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng. Đoàn kết quốc tế là một vấn đề có tính nguyên tắc của cách mạng Việt Nam: "Trong khi tuyên truyền cái khấu hiệu nước An Nam độc lập, phải đồng tuyên truyền và thực hành liên lạc với bị áp bức dân tộc và vô sản giai cấp thế giới, nhất là vô sản giai cấp Pháp". Đồng thời, Cương lĩnh cũng đã xác định cách mạng Việt </span><span style="font-style: italic;" class="mycode_i">Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới. Gắn cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới, đề cao vấn đoàn kết quốc tế chính là sự thể hiện việc kết hợp chặt chẽ chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế vô sản, lợi ích dân tộc và lợi ích toàn nhân loại tiến bộ đang đấu tranh để giải phóng khỏi ách áp bức, bất công trên thế giới. Vấn đề đoàn kêt quốc tế cũng đồng thời là một động lực quan trọng của cách mạng Việt Nam.</span><br />
</span>  <span style="color: Black;" class="mycode_color"><span style="text-decoration: underline;" class="mycode_u">7- Xây dựng Đảng cách mạng vững mạnh,</span> kêu gọi mọi người ủng hộ và gia nhập Đảng, phải có tổ chức chặt chẽ.<br />
</span>  <span style="color: Black;" class="mycode_color">Lần đầu tiên cách mạng Việt Nam có một bản cương lĩnh chính trị phản ánh được quy luật khách quan của xã hội Việt Nam, đáp ứng những nhu cầu cơ bản và cấp bách của xã hội Việt Nam, phù hợp với xu thế của thời đại.  Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Cương lĩnh ấy rất phù hợp với nguyện vọng thiết tha của đại đa số nhân dân ta... Vì vậy, Đảng đã đoàn kết được những lực lượng cách mạng to lớn chung quanh giai cấp mình. Còn các đảng phái của các giai cấp khác thì hoặc bị phá sản, hoặc bị cô lập. Do đó, quyền lãnh đạo của Đảng ta - Đảng của giai cấp công nhân - không ngừng củng cố và tăng cường".         </span><br />
 <br />
 <span style="color: #ffffff;" class="mycode_color"> <br />
 <span style="color: #ff0000;" class="mycode_color"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">Câu 2: ý nghĩa ra đời đảng cộng sản việt nam:</span></span><br />
 </span> <br />
 <br />
 <br />
 <span style="color: black;" class="mycode_color">- Đảng Cộng sản Việt </span><span style="color: black;" class="mycode_color">Nam</span><span style="color: black;" class="mycode_color"> ra đời với Cương lĩnh đầu tiên của Đảng đã mở ra thời kì mới cho cách mạng Việt </span><span style="color: black;" class="mycode_color">Nam</span><span style="color: black;" class="mycode_color">: thời kì đấu tranh giành độc lập dân tộc tiến lên chủ nghĩa xã hội. Cương lĩnh đầu tiên của Đảng đã xác định được những nội dung cơ bản nhất của con đường cách mạng Việt </span><span style="color: black;" class="mycode_color"><span style="color: #ffcc00;" class="mycode_color">Nam</span><span style="color: #ffcc00;" class="mycode_color">. Cương lĩnh ra đời đã đáp ứng được những nhu cầu bức thiết của lịch sử và trở thành ngọn cờ tập hợp, thống nhất các tổ chức cộng sản, các lực lượng cách mạng và toàn thể dân tộc trong sự nghiệp đấu tranh vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. </span><br />
</span>  <span style="color: black;" class="mycode_color">Cách mạng Việt </span><span style="color: black;" class="mycode_color">Nam</span><span style="color: black;" class="mycode_color"> từ đây có đường lối cách mạng đúng đắn và tổ chức cách mạng tiên phong lãnh đạo, chấm dứt sự khủng hoảng và bế tắc về con đường cứu nước: “Từ cuối thế kỷ XIX đến những thập niên đầu thế kỷ XX, nhân dân ta liên tiếp nổi dậy chống chủ nghĩa thực dân. Tiếp nối các phong trào Văn Thân và Cần Vư*ơng, phong trào yêu n*ớc ba mư*ơi năm đầu thế kỷ XX diễn ra vô cùng anh dũng, từ khởi nghĩa Yên Thế và các phong trào Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thục, Duy Tân đến khởi nghĩa Yên Bái… như*ng không thành công vì thiếu một đư*ờng lối đúng”. “Năm 1930, kế thừa “Hội Việt </span><span style="color: black;" class="mycode_color">Nam</span><span style="color: black;" class="mycode_color"> cách mạng thanh niên” và các tổ chức cộng sản tiền thân, Đảng cộng sản Việt </span><span style="color: black;" class="mycode_color">Nam</span><span style="color: black;" class="mycode_color"> ra đời, đánh dấu b*ước ngoặt của cách mạng Việt </span><span style="color: black;" class="mycode_color">Nam</span><span style="color: black;" class="mycode_color">”.<br />
</span>  <span style="color: black;" class="mycode_color">- Đảng Cộng sản Việt </span><span style="color: black;" class="mycode_color">Nam</span><span style="color: black;" class="mycode_color"> ra đời là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt </span><span style="color: black;" class="mycode_color">Nam</span><span style="color: black;" class="mycode_color">. Điều đó nói lên quy luật ra đời của Đảng và cũng chứng tỏ giai cấp công nhân mà đội tiên phong là Đảng Cộng sản Việt Nam đã trưởng thành và có đủ những yếu tố cơ bản nhất để khẳng định sự đảm nhiệm vai trò lãnh đạo đối với cách mạng Việt Nam. Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng đánh dấu bước phát triển vế chất của cách mạng Việt </span><span style="color: black;" class="mycode_color"><span style="color: #ffcc00;" class="mycode_color">Nam</span><span style="color: #ffcc00;" class="mycode_color">.   </span><br />
</span>  <span style="color: black;" class="mycode_color">- Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập khẳng định dứt khoát con đường đi lên của dân tộc Việt Nam từ 1930 là con đường cách mạng vô sản. Đó là sự lựa chọn của chính nhân dân Việt </span><span style="color: black;" class="mycode_color">Nam</span><span style="color: black;" class="mycode_color">, chính lịch sử dân tộc Việt </span><span style="color: black;" class="mycode_color">Nam</span><span style="color: black;" class="mycode_color"> trong quá trình tìm con đường giải phóng dân tộc.<br />
</span>  <span style="color: black;" class="mycode_color">Sự ra đời Đảng Cộng sản Việt Nam và Cư*ơng lĩnh đư*ợc thông qua ở Hội nghị thành lập Đảng, từ năm 1930 cách mạng Việt Nam có đư*ợc đư*ờng lối chính trị toàn diện đề ra mục tiêu và ph*ương pháp đấu tranh thích hợp, giải quyết triệt để những mâu thuẫn cơ bản của xã hội, đồng thời có đư*ợc tổ chức Đảng cách mạng để lãnh đạo và tổ  chức phong trào cách mạng.  Sự ra đời của Đảng đã tạo những tiền đề và điều kiện để đ*ưa cách mạng Việt </span><span style="color: black;" class="mycode_color">Nam</span><span style="color: black;" class="mycode_color"> đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác trên con đường giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc và xây dựng đất nước .<br />
</span>  <span style="color: black;" class="mycode_color">Sự đúng đắn của <span style="font-style: italic;" class="mycode_i">Cương lĩnh chính trị đầu tiên</span> đã được khẳng định bởi quá trình khảo nghiệm của lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước quá độ đi lên CNXH của dân tộc ta từ khi Đảng ra đời và đến nay vẫn là ngọn cờ dẫn dắt nhân dân ta trong công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vì mục tiêu "dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh".</span><br />
 <br />
 <span style="color: #ffffff;" class="mycode_color"> <br />
 <span style="color: #ff0000;" class="mycode_color"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">Câu 3: trình bày nội dung cơ bản cương lĩnh chính trị của đảng</span></span><span style="color: #ffcc00;" class="mycode_color">:</span><br />
 </span> <br />
 <br />
  <br />
  <br />
 <br />
 <span style="color: black;" class="mycode_color">Nam</span><span style="color: black;" class="mycode_color"> là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt </span><span style="color: black;" class="mycode_color">Nam</span><span style="color: black;" class="mycode_color">. Đảng "thu phục cho được đại bộ phận giai cấp mình, phải làm cho giai cấp mình lãnh đạo được dân chúng... phải thu phục cho được đại bộ phận dân cày và phải dựa vào hạng dân cày nghèo làm thổ địa cách mạng đánh trúc bọn đại địa chủ và phong kiến", đồng thời phải liên minh với các giai cấp cách mạng và tầng lớp yêu nước khác, đoàn kết họ, tổ chức họ đấu tranh cho giai phóng dân tộc và để đi tới chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản. <br />
- Cương lĩnh đâu tiên là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo học thuyết Mác - Lênin, đường lối của Quốc tế cộng sản và kinh nghiệm cách mạng thế giới vào hoàn cảnh cụ thể nước ta, là sự thể hiện tập trung tư tưởng cơ bản của đồng chí Nguyễn ái Quốc về cách mạng dân tộc dân chủ và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước thuộc địa nửa phong kiến. <br />
Nhưng không phải những giá trị tư tưởng, đường lối đúng đắn trên đã được mọi người nhận thức, quán triệt. Hội nghị Ban chấp hành trung ương Đảng tháng 10 nǎm 1930 đã phê phán những "sai lầm" của Hội nghị hợp nhất và quyết định "thủ tiêu Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt và Điều lệ" của Đảng, thông qua Luận cương chính trị theo tinh thần chỉ thị củaQuốc tế cộng sản, đổi tên đảng là "Đảng cộng sản Đông Dương ". <br />
Sở dĩ có vấn đề chưa thống nhất giữa Cương lĩnh đầu tiên do Hội nghị thành lập Đảng vạch ra với Luận cương chính trị và các vǎn kiện của Hội nghị trung ương Đảng tháng l0-1930 là vì không chỉ do kết hợp hay tách rời yếu tố giai cấp với yếu tố dân tộc, mà còn do xác định đúng hay chưa đúng vị trí của mỗi yếu tố đó trong điều kiện cụ thể của nước ta. Đồng chí Nguyễn ái Quốc đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, đánh giá đúng hơn và đầy đủ hơn yếu tố dân tộc trong cách mạng Việt </span><span style="color: black;" class="mycode_color">Nam</span><span style="color: black;" class="mycode_color">. <br />
Tuy bị phê phán, nhưng thực tiễn cách mạng Việt </span><span style="color: black;" class="mycode_color">Nam</span><span style="color: black;" class="mycode_color"> đã chứng minh cho sự đúng đắn, sáng tạo của Cương lĩnh đầu tiên. <br />
Sau 30 nǎm đấu tranh và thắng lợi của cách mạng Việt </span><span style="color: black;" class="mycode_color">Nam</span><span style="color: black;" class="mycode_color">, Chủ tịch Hồ Chí Minh; (tức đồng chí Nguyễn ái Quốc) đã viết: "Cương lĩnh ấy rất phù hợp với nguyện vọng thiết tha của đại đa số nhân dân ta... Vì vậy, Đảng ta đã đoàn kết được những lực lượng cách mạng to lớn chung quanh giai cấp mình. <br />
Còn các đảng phái của các giai cấp khác thì hoặc bị phá sản, hoặc bị cô lập. Do đó, quyền lãnh đạo của Đảng ta - Đảng của giai cấp công nhân không ngừng củng cố và tǎng cường".</span><br />
 <span style="color: #ff0000;" class="mycode_color"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">Câu 4 : kết quả ,ý nghĩa và nguyên nhân thắng lợi và bài học kinh nghiệm cách mạng 8-1945</span></span><br />
 <span style="color: black;" class="mycode_color">Phân tích thời cơ bùng nổ cuộc cách mạng tháng 8 năm 1945? Những nguyên nhân thắng lợi, ý nghĩa lịch sử và những bài học kinh nghiệm?<br />
1. Nguyên nhân thắng lợi :<br />
* Nguyên nhân khách quan: Cách mạnh tháng 8 nổ ra trong hoàn cảnh quốc tế vô cùng thuận lợi. Đó là lúc phe phát xít đã bại trận. Kẻ thù trực tiếp của nhân dân Việt </span><span style="color: black;" class="mycode_color">Nam</span><span style="color: black;" class="mycode_color"> là phát xít Nhật đã phải đầu hàng đồng minh. Quân đội Nhật ở Đông Dương mất hết tinh thần chiến đấu. Chính phủ thân Nhật Trần Trọng Kim hoang mang, rệu rã.<br />
* Nguyên nhân chủ quan:<br />
- Đó là kết quả của 15 năm đấu tranh gian khổ, đầy hy sinh của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, là kết quả tổng hợp của 3 cao trào cách mạng.<br />
- Đó là sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Đông Dương. Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là điều kiện cơ bản, quyết định thắng lợi của cách mạng Tháng Tám năm 1945.<br />
2. Ý nghĩa lịch sử:<br />
* Đối với dân tộc:<br />
- Cách mạng Tháng Tám đã đập tan ách thống trị của đế quốc và phong kiến, lập ra nước Việt </span><span style="color: black;" class="mycode_color">Nam</span><span style="color: black;" class="mycode_color"> dân chủ cộng hoà.<br />
- Cách mạng tháng 8 năm 1945 đã đánh dấu một trang sử vẻ vang của dân tộc ta, đánh dấu sự đổi đời của một dân tộc. Cách mạng Tháng Tám đã đưa nước ta từ một nước thuộc địa trở thành một nước độc lập dân chủ, đưa Đảng ta từ một Đảng không hợp pháp trở thành một Đảng nắm chính quyền, đưa dân tộc ta lên hàng các dân tộc tiên phong trên thế giới.<br />
- Cách mạng Tháng Tám đã mở ra một kỷ nguyên mới cho cách mạng nước ta- kỷ nguyên của độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội.<br />
- Cách mạng tháng Tám là minh chứng hùng hồn cho vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân Việt </span><span style="color: black;" class="mycode_color">Nam</span><span style="color: black;" class="mycode_color"> với đội tiên phong của mình là Đảng Cộng sản. Đây là một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc điển hình do Đảng Cộng sản lãnh đạo, là thắng lợi đầu tiên của chủ nghĩa Mác- Lênin ở một nước thuộc địa.<br />
* Đối với quốc tế:<br />
- Cách mạng Tháng Tám đã nâng cao vị thế quốc tế của dân tộc Việt </span><span style="color: black;" class="mycode_color">Nam</span><span style="color: black;" class="mycode_color">. Lần đầu tiên một dân tộc nhược tiểu đã tự giải phóng khỏi ách đế quốc thực dân.<br />
-Cách mạng Tháng Tám đã phá tan một mắt xích quan trọng của chủ nghĩa đế quốc, mở đầu cho sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ.<br />
- Thắng lợi của cách mạng tháng Tám đã cổ vũ mạnh mẽ phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa trong cuộc đấu tranh giành độc lập.<br />
3. Những bài học kinh nghiệm:<br />
Cách mạng tháng Tám thành công đã để lại cho Đảng ta và nhân dân Việt nam nhiều bài học quý báu, góp phần làm phong phú thêm kho tàng lý luận về cách mạng giải phóng dân tộc và khởi nghĩa dân tộc. Đó là những bài học chính sau đây:<br />
- Một là: Gương cao ngọn cờ độc lập dân tộc, kết hợp đúng đắn hai nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến. Tuy 2 nhiệm vụ không tách rời nhau nhưng chống đế quốc phải là nhiệm vụ hàng đầu, chống phong kiến phải phục tùng nhiệm vụ chống đế quốc và phải thực hiện từng bước với những khẩu hiệu thích hợp. Đường lối này đã được khẳng định trong đường lối cứu nước của Nguyễn Ái Quốc và trở thành cương lĩnh của Đảng ta.<br />
- Hai là: Toàn dân nổi dậy trên nền tảng khối liên minh Công – Nông.<br />
- Ba là: Lợi dụng mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ thù.<br />
- Bốn là: Kiên quyết dùng bạo lực cách mạng và biết sử dụng bạo lực cách mạng một cách<br />
thích hợp để đập tan bộ máy nhà nước cũ, lập ra bộ máy nhà nước của nhân dân.<br />
- Năm là: Nắm vững nghệ thuật khởi nghĩa, nghệ thuật chớp đúng thời cơ.<br />
-Sáu là: Xây dựng một Đảng Mác-Lênin đủ sức lãnh đạo tổng khởi nghĩa giành chính quyền<br />
Tóm lại: Thắng lợi của cách mạng tháng 8-1945 là kết quả tất yếu của 15 năm chuẩn bị chu đáo của Đảng ta, là kết quả của cuộc đấu tranh yêu nước rộng lớn của dân tộc, sự hy sinh anh dũng của đồng bào, đồng chí cho sự nghiệp giải phóng dân tộc.</span><br />
 <span style="color: #ff0000;" class="mycode_color"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">Câu 5: trình bày đường lối kháng chiến chống thực dân pháp</span></span><br />
 <span style="color: black;" class="mycode_color">- Năm 1858 thực dân Pháp xâm luợc nước ta. Ngày 6-6-1884 triều đình Nguyễn ký hiệp ước Patơnốt thừa nhận sự thống trị của thực dân Pháp, chia nước ta thành 3 kỳ với 3 chế độ chính trị khác nhau, vừa xây dựng hệ thống chính quyền thuộc địa, vừa duy trì chính quyền phong kiến và tay sai làm chổ dựa. Mọi quyền hành đều trong tay người Pháp, với âm mưu thâm độc thực hiện chính sách chia để trị, chính sách ngu dân, chính sách độc quyền về kinh tế, ra sức vơ vét tài nguyêm bóc lột sức lao động rẻ mạt của người bản xứ, cừng nhiều hình thức thuế khoá năng nề, vô lý. <br />
</span>  <span style="color: black;" class="mycode_color">- Trước những áp bức bóc lột dã man của thực dân Pháp, nhân dân ta đã liên tiếp nổi dậy cầm vũ khí chống bọn cướp nước. Nhưng tất cả những cuộc đấu tranh đó đều không giành được thắng lơi. Giai cấp địa chủ phong kiên mà tiêu biểu là triều đình nhà Nguyễn đã bất lực và hèn nhát nhanh chóng đầu hàng thực dân Pháp và trở thành phản động, phản bội lại lợi ích của dân tộc.<br />
</span>  <span style="color: black;" class="mycode_color">Phong trào chống Pháp theo ý thức hệ phong kiến: phong trào Cần Vương đã thất bại khi cuộc khởi nghĩa của Phan Đình Phùng chấm dứt năm   1896; phong trào khởi nghĩa nông dân Yên Thế của Hoàng Hoa Thám kéo dài 30 năm cũng không giành được thắng lợi. Nguyên nhân là do thiếu đường lối đúng, thiếu một tổ chức cách mạng có khả năng dẫn dắt dân tộc đến thắng lợi. Điều này chứng tỏ rằng, thời kỳ đấu tranh chống ngoại xâm trong khuôn khổ ý thức hệ tư tưởng phong kiến đã chấm dứt.Cuộc đấu tranh của nhân dân ta rơi vào tình trạng khủng hoảng về đường lối cứu nước, về giai cấp lãnh đạo cách mạng.<br />
</span>  <span style="color: black;" class="mycode_color">- Vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, Việt </span><span style="color: black;" class="mycode_color"><span style="color: #ffcc00;" class="mycode_color">Nam</span><span style="color: #ffcc00;" class="mycode_color"> cũng như một số nước phương Đông khác đã ít nhiều chịu sự chi phối của ý thức hệ tư sản. Đặc biệt cách mạng Minh Trị ở Nhật Bản (l868), cuộc cách mạng Tân Hợi ở Trung Quốc (1911) đã có tác động nhất định tới phong trào yêu nước ở Việt Nam,  làm dấy lên ở nước ta một phong trào yêu nước rộng rãi theo khuynh hướng tu sản nhưng đều thất bại. Tiêu biểu là phong trào của cụ Phan Bội Châu, cụ Phan Chu Trinh, phong trào Duy Tân của vua Duy Tân. Điều này chứng tỏ sự bất lực của giai cấp tư sản Việt </span><span style="color: #ffcc00;" class="mycode_color">Nam</span><span style="color: #ffcc00;" class="mycode_color">, rằng giai cấp tư sản Việt </span><span style="color: #ffcc00;" class="mycode_color">Nam</span><span style="color: #ffcc00;" class="mycode_color"> không đủ khả năng giương cao ngọn cờ lãnh đạo đưa cách mạng Việt </span><span style="color: #ffcc00;" class="mycode_color">Nam</span><span style="color: #ffcc00;" class="mycode_color"> đi đến thắng lợi. </span><br />
</span>  <span style="color: black;" class="mycode_color">Tình hình khủng hoảng, bế tắc về con đường cứu nước giải phóng dân tộc, yêu cầu lịch sử đòi hỏi phải có một tổ chức cách mạng tiên phong, có đường lối cách mạng đúng đắn dẫn đường, mới có khả năng đưa phong trào cứu nước đi đến thắng lợi.<br />
</span>  <span style="color: black;" class="mycode_color">Câu 6: nội dung cơ bản và ý nghĩa  đường lối kháng chiến của mỹ cứu nước 1965-1975<br />
</span>  <span style="color: black;" class="mycode_color">1. Làm cho toàn Đảng, toàn dân hiểu rõ những vấn đề sau:<br />
</span>  <span style="color: black;" class="mycode_color">- Sự chuyển biến của tình hình, miền Bắc không còn ở trong thời kỳ xây dựng hoà bình nữa, mà đã bắt đầu ở vào thời chiến.<br />
</span>  <span style="color: black;" class="mycode_color">- So sánh lực lượng giữa ta và địch. Nhấn mạnh những thuận lợi của ta và thất bại nghiêm trọng của Mỹ, cho nên ta nhất định sẽ thắng, Mỹ nhất định sẽ thất bại hoàn toàn.<br />
</span>  <span style="color: black;" class="mycode_color">- Giải phóng miền </span><span style="color: black;" class="mycode_color">Nam</span><span style="color: black;" class="mycode_color"> là trách nhiệm chung của nhân dân cả nước và cả nước đều phải tham gia đánh giặc. Cần phải xác định rõ “Miền Bắc dù có bị ném bom bắn phá đến đâu cũng phải vì giải phóng miền </span><span style="color: black;" class="mycode_color">Nam</span><span style="color: black;" class="mycode_color"> mà không chút nao núng, nâng cao chí khí căm thù và quyết tâm thắng địch”(3). Phải đẩy mạnh phong trào “ba sẵn sàng” với nội dung và yêu cầu mới. Cần phải xây dựng tác phong tích cực, khẩn trương của thời chiến.<br />
</span>  <span style="color: black;" class="mycode_color">2. Phải ra sức xây dựng tư tưởng phấn khởi và tin tưởng, quyết chiến quyết thắng đế quốc Mỹ và tay sai, tư tưởng sẵn sàng chiến đấu và công tác ở bất cứ nơi nào theo tiếng gọi của Đảng và của Tổ quốc; tư tưởng sẵn sàng đánh bại bất cứ loại chiến tranh nào của địch, sẵn sàng khắc phục mọi khó khăn gian khổ, sẵn sàng chiến đấu lâu dài chống Mỹ với tinh thần tự lực cánh sinh cao; chống tư tưởng sợ Mỹ, đánh giá địch quá cao, hoặc chủ quan khinh địch; tư tưởng hoang mang, dao động, cầu an; tư tưởng muốn đàm phán khi chưa có điều kiện có lợi, muốn kết thúc chiến tranh với bất cứ giá nào; tư tưởng ỷ lại vào sự giúp đỡ của nước ngoài và không tin vào sức mình.<br />
</span>  <span style="color: black;" class="mycode_color">Như vậy, “chuyển hướng tư tưởng” ở đây có thể hiểu một cách ngắn gọn là: chuyển từ nội dung và phương pháp tư tưởng ở thời bình sang nội dung và phương pháp tư tưởng ở thời chiến, trong đó bao gồm những nội dung cụ thể là đế quốc Mỹ dù có mạnh đến mấy chúng ta cũng nhất định thắng; miền Bắc dù có bị bắn phá đến đâu cũng phải quyết tâm cùng miền Nam đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Cốt lõi của vấn đề chuyển hướng tư tưởng là làm cho nhân dân miền Bắc thấy rõ tình hình mới của đất nước, từ đó có sự đồng thuận tuyệt đối với Đảng, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược trong bất kỳ tình huống nào. <br />
</span>  <span style="color: black;" class="mycode_color">Chủ trương “chuyển hướng tư tưởng” của Hội nghị Trung ương 11 được tiếp tục khẳng định và bổ sung ở Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 12 (12-1965). Và Hội nghị xác định nhiệm vụ của công tác tư tưởng là:<br />
</span>  <span style="color: black;" class="mycode_color">- Giáo dục cho toàn Đảng, toàn dân nhận rõ nhiệm vụ lịch sử vô cùng vẻ vang của nhân dân ta là chiến đấu chống một kẻ thù mạnh nhất và nguy hiểm nhất của loài người là đế quốc Mỹ, làm cho mọi người tin tưởng vững chắc rằng với đường lối đúng đắn của Đảng, với tinh thần dũng cảm chiến đấu của quân và dân ta, chúng ta có thể đánh bại bất cứ loại chiến tranh nào của đế quốc Mỹ. <br />
</span>  <span style="color: black;" class="mycode_color">- Giáo dục chủ nghĩa anh hùng cách mạng cho nhân dân, nhất là cho bộ đội và thế hệ thanh niên, làm cho mọi người sẵn sàng chịu đựng mọi gian khổ, hy sinh, khắc phục mọi khó khăn để hoàn thành bất cứ nhiệm vụ nào, chiến đấu anh dũng với bất cứ kẻ thù nào, đánh bại bất cứ loại chiến tranh nào của địch. <br />
</span>  <span style="color: black;" class="mycode_color">- Làm cho mọi cán bộ, đảng viên và quần chúng hiểu rõ trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân ta ở miền Bắc là phải tích cực tham gia sự nghiệp giải phóng miền Nam, phục vụ không điều kiện cho tiền tuyến miền Nam và hết sức giúp đỡ cách mạng Lào, làm cho mọi người hăng hái dốc sức ra làm tròn bất cứ nhiệm vụ nào của Đảng và chính phủ giao phó. <br />
</span>  <span style="color: black;" class="mycode_color">Như vậy, chủ trương “chuyển hướng tư tưởng” ở miền Bắc được Đảng ta xác định từ Hội nghị Trung ương lần thứ 11 (3-1965) và tiếp tục được khẳng định, bổ sung, cụ thể hoá ở Hội nghị Trung ương lần thứ 12 (12-1965) cùng các chỉ thị, nghị quyết sau đó của Trung ương về công tác tư tưởng. Nội dung cơ bản của chủ trương là chuyển hướng công tác tư tưởng của Đảng theo hướng: Làm cho toàn thể nhân dân miền Bắc hiểu rõ tình hình miền Bắc không còn ở trong thời bình nữa mà đã chuyển sang thời chiến; nhiệm vụ thiêng liêng nhất của toàn Đảng toàn quân và toàn dân ta lúc này là nhiệm vụ chống Mỹ, cứu nước; toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta phải quyết tâm đánh Mỹ và thắng Mỹ trong bất kể tình huống nào. Nhiệm vụ quan trọng, cấp bách nhất được Trung ương nhấn mạnh nhiều lần, đó là công tác tuyên truyền của Đảng phải tập trung khơi dậy và phát huy mạnh mẽ tinh thần yêu nước của nhân dân; giáo dục chủ nghĩa anh hùng cách mạng và tư tưởng quyết chiến, quyết thắng giặc Mỹ xâm lược trong toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, dù phải hy sinh, gian khổ đến mấy.<br />
</span>  <span style="color: black;" class="mycode_color">Đó là một chủ trương đúng đắn và có ý nghĩa to lớn trong việc chỉ đạo công tác tuyên truyền, cổ động của Đảng ở miền Bắc thời gian này. Từ chủ trương này, những vấn đề căn bản nhất của công tác tư tưởng nói chung, công tác tuyên truyền, cổ động nói riêng được xác định kịp thời và chính xác. Nhờ đó, công tác tuyên truyền, cổ động chính trị của Đảng ở miền Bắc được triển khai mạnh mẽ, rầm rộ và liên tục trong suốt những năm ác liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, góp phần to lớn vào việc động viên, cổ vũ tinh thần chiến đấu và sản xuất của nhân dân miền Bắc, biến sức mạnh tinh thần đó thành sức mạnh vật chất vượt qua mọi gian nan, thử thách, giành thắng lợi cuối cùng trong cuộc chiến đấu không cân sức giữa dân tộc ta và đế quốc Mỹ. Chuyển hướng tư tưởng của Đảng ở miền Bắc những năm 65-75 là một bài học vô cùng quý giá, thiết nghĩ chúng ta cần nghiên cứu sâu sắc và vận dụng trong giai đoạn hiện nay – giai đoạn hội nhập và phát triển đất nước vì “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”./.</span><br />
 <span style="color: #ff0000;" class="mycode_color"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">Câu 7: quá trình đổi mới tư duy của đảng về công nghiệp hóa đất nước từ 1986 đến nay</span>:</span><br />
 <span style="color: black;" class="mycode_color">Đại hội VI của Đảng diễn ra trong bối cảnh sai lầm của đợt tổng cải cách giá - lương - tiền cuối năm 1985 làm cho kinh tế nước ta càng trở nên khó khăn (tháng 12-1986, giá bán lẻ hàng hoá tăng 845,3%). Chúng ta không thực hiện được mục tiêu đề ra là cơ bản ổn định tình hình kinh tế - xã hội, ổn định đời sống nhân dân. Số người bị thiếu đói tăng, bội chi lớn. Nền kinh tế nước ta lâm vào khủng hoảng trầm trọng. Tình hình này làm cho trong Đảng và ngoài xã hội có nhiều ý kiến tranh luận sôi nổi, xoay quanh thực trạng của ba vấn đề lớn: cơ cấu sản xuất; cải tạo xã hội chủ nghĩa; cơ chế quản lý kinh tế. Thực tế tình hình đặt ra một yêu cầu khách quan có tính sống còn đối với sự nghiệp cách mạng là phải xoay chuyển được tình thế, tạo ra sự chuyển biến có ý nghĩa quyết định trên con đường đi lên và như vậy phải đổi mới tư duy.<br />
Với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thực, nói rõ sự thật, Đại hội đã đánh giá đúng mức những thành tựu đạt được sau 10 năm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đi sâu phân tích những tồn tại và nghiêm khắc tự phê bình những sai lầm, khuyết điểm trong lãnh đạo và chỉ đạo của Đảng trong 10 năm (1976-1986).<br />
Đại hội khẳng định quyết tâm đổi mới công tác lãnh đạo của Đảng theo tinh thần cách mạng và khoa học và đánh giá cao quá trình dân chủ hóa sinh hoạt chính trị của Đảng và nhân dân ta trong thời gian chuẩn bị và tiến hành Đại hội.<br />
Đại hội đã đánh giá những thành tựu, những khó khăn của đất nước do cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội tạo ra, những sai lầm kéo dài của Đảng về chủ trương, chính sách lớn, về chỉ đạo chiến lược và tổ chức thực hiện khuynh hướng tư tưởng chủ yếu của những sai lầm đó, đặc biệt là sai lầm về kinh tế là bệnh chủ quan duy ý chí, lối suy nghĩ về hành động đơn giản, nóng vội chạy theo nguyện vọng chủ quan, là khuynh hướng buông lỏng trong quản lý kinh tế, xã hội, không chấp hành nghiêm chỉnh đường lối và nguyên tắc của Đảng đó là tư tưởng vừa tả khuynh vừa hữu khuynh. Báo cáo chính trị tổng kết thành bốn bài học kinh nghiệm lớn:<br />
Một là, trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng "lấy dân làm gốc".<br />
Hai là, Đảng phải luôn luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan.<br />
Ba là, phải biết kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong điều kiện mới.<br />
Bốn là, chăm lo xây dựng Đảng ngang tầm với một đảng cầm quyền lãnh đạo nhân dân tiến hành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa.<br />
Báo cáo xác định nhiệm vụ bao trùm, mục tiêu tổng quát trong những năm còn lại của chặng đường đầu tiên là ổn định mọi mặt tình hình kinh tế- xã hội, tiếp tục xây dựng những tiền đề cần thiết cho việc đẩy mạnh công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa trong chặng đường tiếp theo.<br />
Mục tiêu cụ thể về kinh tế - xã hội cho những năm còn lại của chặng đường đầu tiên là:<br />
- Sản xuất đủ tiêu dùng và có tích luỹ.<br />
- Bước đầu tạo ra một cơ cấu kinh tế hợp lý, trong đó đặc biệt chú trọng ba ch-ương trình kinh tế lớn là lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu, coi đó là sự cụ thể hóa nội dung công nghiệp hoá trong chặng đường đầu của thời kỳ quá độ. Làm cho thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa giữ vai trò chi phối, sử dụng mọi khả năng của các thành phần kinh tế khác trong sự liên kết chặt chẽ, dưới sự chỉ đạo của thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa. Tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa theo nguyên tắc phát triển sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh tế và tăng thu nhập cho người lao động.<br />
- Xây dựng và hoàn thiện một bước quan hệ sản xuất mới phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.<br />
- Tạo ra chuyển biến về mặt xã hội, việc làm, công bằng xã hội, chống tiêu cực, mở rộng dân chủ, giữ kỷ cương phép nước.<br />
- Bảo đảm nhu cầu củng cố quốc phòng và an ninh.<br />
Đại hội đã nêu ra năm phương hướng cơ bản của chính sách kinh tế - xã hội và đề ra hệ thống các giải pháp để thực hiện mục tiêu: Bố trí lại cơ cấu sản xuất, điều chỉnh lớn cơ cấu đầu tư; xây dựng và củng cố quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, sử dụng và cải tạo đúng đắn các thành phần kinh tế. Coi nền kinh tế có nhiều thành phần là một đặc trưng của thời kỳ quá độ; đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, dứt khoát xoá bỏ cơ chế quản lý tập trung quan liêu, bao cấp, chuyển sang cơ chế kế hoạch hoá theo phương thức hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa; phát huy động lực của khoa học - kỹ thuật; mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại.<br />
</span>  <span style="color: black;" class="mycode_color"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">Câu 8: kinh tế tri thức :</span><br />
</span>  [COLOR=black]"Là nền kinh tế sử dụng một cách hiệu quả tri thức cho sự phát triển KT-XH. Điều này bao gồm việc chuyển giao, cải tiến công nghệ nước ngoài cũng như sự thích hợp hoá và sáng tạo hoá các tri thức cho những nhu cầu riêng biệt". Theo Giáo sư, Viện sĩ Đặng Hữu - Trưởng ban Công nghệ thông tin thì "Kinh tế tri thức là nền kinh tế trong đó sự sản sinh ra, phổ cập và sử dụng tri thức giữ vai trò quyết định đối với sự phát triển kinh tế, tạo ra của cải, nâng cao chất lượng cuộc sống". <br />
Theo định nghĩa của WBI - là "nền kinh tế dựa vào tri thức như động lực chính cho tăng trưởng kinh tế. Đó là nền kinh tế trong đó kiến thức được lĩnh hội, sáng tạo, phổ biến và vận dụng để thúc đẩy phát triển". Tại hội thảo, Jean-Eric Aubert, chuyên gia hàng đầu của WBI, nói cụ thể hơn: "Phải phân biệt đó không phải là nền kinh tế dựa vào công nghệ và viễn thông! Kinh tế tri thức là đặt tri thức, sáng tạo và các chính sách liên quan đến chúng vào trọng tâm của chiến lược phát triển cho tất cả các nước ở nhiều mức độ phát triển khác nhau"<br />
Như vậy, kinh tế tri thức là lực lượng sản xuất của thế kỷ 21. Đặc trưng của nền kinh tế tri thức là thị trường chất xám. Trong đó, con người là vốn quý nhất. Tri thức là yếu tố quyết định của sản xuất, sáng tạo đổi mới là động lực thúc đẩy sản xuất phát triển. Công nghệ mới trở thành nhân tố quan trọng hàng]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[[SIZE=3]<span style="color: Blue;" class="mycode_color">[SIZE=3]<span style="color: Blue;" class="mycode_color">sưu tầm được vài câu tự luận chia sẻ với mọi người nè <img src="https://dd.sinhvienhoahoc.net/images/smilies/smile.png" alt="Smile" title="Smile" class="smilie smilie_1" /><br />
<br />
<br />
                           <span style="text-decoration: underline;" class="mycode_u"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">Đường lối cách mạng cua đảng cộng sản việt nam.</span></span><br />
 <br />
 <br />
 [COLOR=#ff0000]<span style="font-weight: bold;" class="mycode_b"><span style="text-decoration: underline;" class="mycode_u">Câu 1: Những nội dung cơ bản trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Công sản Việt </span></span></span><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b"><span style="text-decoration: underline;" class="mycode_u"><span style="color: black;" class="mycode_color">[COLOR=#ff0000]Nam<br />
<br />
</span></span></span></span>  <span style="color: Black;" class="mycode_color">Tại Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản thành lập một chính đảng duy nhất của Việt Nam - Đảng Cộng sản Việt Nam tại Cửu Long – Hương Cảng (Trung Quốc) được tiến hành trong thời gian từ ngày 6-1-1930 đến ngày 7-2-1930 (sau này tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng ngày 10-9-1960 quyết nghị “từ nay trở đi sẽ lấy ngày 3 tháng 2 dương lịch mỗi năm làm ngày kỷ niệm thành lập Đảng”.   <br />
</span>  <span style="color: Black;" class="mycode_color">Thành phần dự Hội nghị gồm 2 đại biểu của Đông Dương cộng sản Đảng (Trịnh Đình Cửu và Nguyễn Đức Cảnh), 2 đại biểu của An Nam cộng sản Đảng (Châu Văn Liêm và Nguyễn Thiệu), dưới sự chủ trì của Nguyễn ái Quốc-đại diện của Quốc tế Cộng sản. Đại diện của Đông Dương Cộng sản liên đoàn không đến kịp, do vậy đến ngày 24-2-1930 xin gia nhập Đảng Cộng sản Việt </span><span style="color: black;" class="mycode_color"><span style="color: #ffcc00;" class="mycode_color">Nam</span><span style="color: #ffcc00;" class="mycode_color">.  </span><br />
</span>  <span style="color: Black;" class="mycode_color">     - Nội dung Hội nghị: Thông qua các văn kiện do lãnh tụ Nguyễn ái Quốc soạn thảo. Đó là  Chánh cương vắn tắt của Đảng, Sách lược vắn tắt của Đảng, Chương trình tóm tắt, Điều lệ vắn tắt của Đảng Cộng sản Việt </span><span style="color: black;" class="mycode_color"><span style="color: #ffcc00;" class="mycode_color">Nam</span><span style="color: #ffcc00;" class="mycode_color"> . Lấy tên Đảng Cộng sản Việt </span><span style="color: #ffcc00;" class="mycode_color">Nam</span><span style="color: #ffcc00;" class="mycode_color">.</span><br />
</span>  <span style="color: Black;" class="mycode_color">Sau này Chánh cương vắn tắt của Đảng, Sách lược vắn tắt của Đảng được xem là Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt </span><span style="color: black;" class="mycode_color"><span style="color: #ffcc00;" class="mycode_color">Nam</span><span style="color: #ffcc00;" class="mycode_color"><span style="font-style: italic;" class="mycode_i">. </span>Trong đó, đã phản ánh những nội dung cơ bản nhất của sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng con người trên đất nước Việt </span><span style="color: #ffcc00;" class="mycode_color">Nam</span><span style="color: #ffcc00;" class="mycode_color">. </span><br />
</span>  <span style="color: Black;" class="mycode_color"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b"><span style="text-decoration: underline;" class="mycode_u">Những nội dung cơ bản của Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng được Hội nghị thống nhất thông qua là: </span></span><br />
</span>  <span style="color: Black;" class="mycode_color"><span style="text-decoration: underline;" class="mycode_u">1- Khẳng định phươnghướng chiến lược của cách mạng Việt </span><span style="text-decoration: underline;" class="mycode_u">Nam</span></span><span style="color: Black;" class="mycode_color"><span style="text-decoration: underline;" class="mycode_u">. Đó là:</span> "chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản".(Sau này gọi là cách mạng dân tộc dân chủ và cách mạng xã hội chủ nghĩa). Tính chất giai đoạn và lý luận cách mạng không ngừng đã được thể hiện trong Cương lĩnh đầu tiên của Đảng: cách mạng tư sản dân quyền là thời kỳ dự bị để tiên lên cách mạng xã hội chủ nghĩa. Đây là con đường cứu nước mới, khác với những chủ trương, những con đường cứu nước của những nhà yêu nước đương thời đã đi vào bê tắc và thất bại. Như vậy, ngay từ đầu Đảng ta đã tiếp thu và vận dụng sáng tạo lý luận MÁC-LÊNIN vào hoàn cảnh cụ thể của đất nước. Đường lối cơ bản của cách mạng Việt </span><span style="color: black;" class="mycode_color"><span style="color: #ffcc00;" class="mycode_color">Nam</span><span style="color: #ffcc00;" class="mycode_color"> được phản ánh trong Cương lĩnh đã thiện được tư tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghiã xã hội. Việc xác định đúng đắn phương hướng, con đường của cách mạng Việt </span><span style="color: #ffcc00;" class="mycode_color">Nam</span><span style="color: #ffcc00;" class="mycode_color"> ngay từ đầu có ý nghĩa hết sức quan trọng. Đó là ngọn cờ tập hợp lực lượng cách mạng, là cơ sở để giải quyết đứng đắn các vấn đề cơ bản của cách mạng việt </span><span style="color: #ffcc00;" class="mycode_color">Nam</span><span style="color: #ffcc00;" class="mycode_color">.</span><br />
</span>  <span style="color: Black;" class="mycode_color"><span style="text-decoration: underline;" class="mycode_u">2- Nhiệm vụ, mục tiêu cơ bản  <span style="font-style: italic;" class="mycode_i">của cách mạng Việt </span></span><span style="text-decoration: underline;" class="mycode_u"><span style="font-style: italic;" class="mycode_i">Nam</span></span></span><span style="color: Black;" class="mycode_color"><span style="text-decoration: underline;" class="mycode_u"><span style="font-style: italic;" class="mycode_i">, </span>Cương lĩnh chỉ rõ:</span> ''Đánh đố đế quốc chủ nghĩa và bọn phong kiến. Làm cho nước </span><span style="color: black;" class="mycode_color"><span style="color: #ffcc00;" class="mycode_color">Nam</span><span style="color: #ffcc00;" class="mycode_color"> được hoàn toàn độc lập". Tức là nhiệm vụ của cách mạng tư sản dân quyền (sau này gọi là cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân) là chống đế quốc giành độc lập cho dân tộc và chống phong kiến để giành ruộng đất cho dân cày. Trong đó nhiệm vụ chống đế quốc, giải phóng dân tộc là nhiệm vụ được đặt lên hàng đầu.</span><br />
</span>  <span style="color: Black;" class="mycode_color">Xuất phát từ đặc điếm của chế độ thuộc địa nửa phong kiến, đây là hai nhiệm vụ cơ bản của cách mạng Việt </span><span style="color: black;" class="mycode_color"><span style="color: #ffcc00;" class="mycode_color">Nam</span><span style="color: #ffcc00;" class="mycode_color">. Sự kết hợp hai nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến đã khẳng định tính toàn diện, triệt để của đường lối cách mạng Việt </span><span style="color: #ffcc00;" class="mycode_color">Nam</span><span style="color: #ffcc00;" class="mycode_color">. Những nhiệm vụ đó là biểu hiện sinh động của việc kết hợp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội và giải phóng con người trong đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam và lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc.</span><br />
</span>  <span style="color: Black;" class="mycode_color"><span style="text-decoration: underline;" class="mycode_u">3- <span style="font-style: italic;" class="mycode_i">Về lực lượng của cách mạng Việt Nam</span></span><span style="font-style: italic;" class="mycode_i">, </span>phải đoàn kết công nhân, nông dân-đây là lực lượng cơ bản trong đó giai cấp công nhân lãnh đạo; đồng thời Cương lĩnh nêu rõ: "Đảng phải hết sức liên lạc với tiểu tư sản, trí thức, trung nông, Thanh niên, Tân Việt, v.v. đế kéo họ đi vào phe vô sản giai cấp. Còn đối với bọn phú nông, <span style="font-style: italic;" class="mycode_i">trung, tiểu địa chủ </span>và tư bản An Nam mà chưa rõ mặt phản cách mạng thì phải lợi dụng, ít lâu mới làm cho họ đứng trung lập''. Đây là tư tưởng tập hợp lực lượng cách mạng trên cơ sở đánh giá thái độ các giai cấp phù hợp với đặc điểm xã hội Việt </span><span style="color: black;" class="mycode_color"><span style="color: #ffcc00;" class="mycode_color">Nam</span><span style="color: #ffcc00;" class="mycode_color">.</span><br />
</span>  <span style="color: Black;" class="mycode_color">Để thực hiện sự nghiệp giải phóng dân tộc, Cương lĩnh chỉ ra rằng, phải đoàn kết với tất cả các giai cấp, các tầng lớp nhân dân yêu nước. Đó là sự thể hiện quan điểm: cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, nhân dân là người làm nên lịch sử. Đồng thời, Cương lĩnh cũng đã chỉ ra lực lượng chính, động lực chủ yếu của sự nghiệp cách mạng Việt </span><span style="color: black;" class="mycode_color"><span style="color: #ffcc00;" class="mycode_color">Nam</span><span style="color: #ffcc00;" class="mycode_color"> là công nhân và nông dân. Đây là sự thể hiện tính nguyên tắc trong chính sách đại đoàn kết dân tộc và sự sắp xếp, tổ chức lực lượng cách mạng của Đảng ta. Việc tập hợp lực lượng rộng rãi cũng như xác định được động lực chủ yếu, cơ bản của sự nghiệp cách mạng phản ánh sự mềm dẻo và linh hoạt trong chiến lược đại đoàn kết dân tộc của Đảng ta.</span><br />
</span>  <span style="color: Black;" class="mycode_color"><span style="text-decoration: underline;" class="mycode_u">4- <span style="font-style: italic;" class="mycode_i">Về phương pháp </span>cách <span style="font-style: italic;" class="mycode_i">mạng Việt </span></span><span style="text-decoration: underline;" class="mycode_u"><span style="font-style: italic;" class="mycode_i">Nam</span></span></span><span style="color: Black;" class="mycode_color"><span style="text-decoration: underline;" class="mycode_u"><span style="font-style: italic;" class="mycode_i">,</span></span>Cương lĩnh đã khẳng định: phương pháp cách mạng cơ bản của Việt </span><span style="color: black;" class="mycode_color"><span style="color: #ffcc00;" class="mycode_color">Nam</span><span style="color: #ffcc00;" class="mycode_color"> là dùng sức mạnh tổng hợp của quần chúng nhân dân để đánh đổ đế quốc phong kiến, đó là bạo lực cách mạng. Phương pháp bạo lực cách mạng được nêu lên với những biểu hiện cụ thể: đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến, đánh đổ các đảng phản cách mạng như Đảng Lập hiến, đánh trúc bọn đại địa chủ và phong kiến. Chính sự thất bại của khuynh hướng cải lương hoà bình ở Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX đã cho thấy cách mạng muốn giành thắng lợi, không có con đường nào khác là phải sử dụng bạo lực cách mạng. Việc nêu lên phương pháp cách mạng bạo lực trong sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta đã thể hiện sự thấm nhuần và tiếp thu tư tưởng cách mạng bạo lực của chủ nghĩa MÁC-LÊNIN.</span><br />
</span>  <span style="color: Black;" class="mycode_color">5- Xác định vai trò của Đảng Cộng sản Việt </span><span style="color: black;" class="mycode_color"><span style="color: #ffcc00;" class="mycode_color">Nam</span><span style="color: #ffcc00;" class="mycode_color"> là đội tiên phong của giai cấp công nhân, phải thu phục và lãnh đạo được dân chúng.</span><br />
</span>  <span style="color: Black;" class="mycode_color">Để thực hiện thành công sự nghiệp cách mạng, Cương lĩnh đã khẳng định vai trò quyết định của Đảng: Đảng là đội tiên phong của vô sản giai cấp. Để lám tròn sứ mệnh lịch sử là nhân tố tiên phong quyết đinh thắng lơi của cách mạng Việt </span><span style="color: black;" class="mycode_color"><span style="color: #ffcc00;" class="mycode_color">Nam</span><span style="color: #ffcc00;" class="mycode_color">, Đảng phải: "thu phục cho được đại bộ phận giai cấp mình, phải làm cho giai cấp mình lãnh đạo được dân chúng". Khẳng định bản chất giai cấp của Đảng, vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân và chiến lược đại đoàn kết dân tộc trên cơ sở liên minh công - nông là những vấn đế then chốt bảo đảmcho Đảng ta trở thành<span style="font-style: italic;" class="mycode_i"> nhân tố duy nhất lãnh đạo cách mạng Việt </span></span><span style="font-style: italic;" class="mycode_i"><span style="color: #ffcc00;" class="mycode_color">Nam</span><span style="color: #ffcc00;" class="mycode_color">. Cương lĩnh cũng nêu lên sự gắn bó, quan hệ máu thịt giữa Đảng với quần chúng. Đây là điều kiện tạo cho Đảng có nguồn súc mạnh vĩ đại và trở thành lãnh tụ chính trị cho cả dân tộc. Sự lãnh đạo của.Đảng là yếu tố quyết định nhất cho thắng lợi của cách mạng Việt </span><span style="color: #ffcc00;" class="mycode_color">Nam</span><span style="color: #ffcc00;" class="mycode_color">.</span></span><br />
</span>  <span style="color: Black;" class="mycode_color"><span style="text-decoration: underline;" class="mycode_u">6- Phát huy tinh thần tự lực tự cường,</span> đồng thời tranh thủ sự đoàn kết, ủng hộ của các dân tộc bị áp bức và giai cấp vô sản thế giới, nhất là giai cấp vô sản Pháp.<br />
</span>  <span style="color: Black;" class="mycode_color"><span style="font-style: italic;" class="mycode_i">Vấn đề đoàn kết quốc tế cũng là một nội dung quan trọng của Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng. Đoàn kết quốc tế là một vấn đề có tính nguyên tắc của cách mạng Việt Nam: "Trong khi tuyên truyền cái khấu hiệu nước An Nam độc lập, phải đồng tuyên truyền và thực hành liên lạc với bị áp bức dân tộc và vô sản giai cấp thế giới, nhất là vô sản giai cấp Pháp". Đồng thời, Cương lĩnh cũng đã xác định cách mạng Việt </span><span style="font-style: italic;" class="mycode_i">Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới. Gắn cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới, đề cao vấn đoàn kết quốc tế chính là sự thể hiện việc kết hợp chặt chẽ chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế vô sản, lợi ích dân tộc và lợi ích toàn nhân loại tiến bộ đang đấu tranh để giải phóng khỏi ách áp bức, bất công trên thế giới. Vấn đề đoàn kêt quốc tế cũng đồng thời là một động lực quan trọng của cách mạng Việt Nam.</span><br />
</span>  <span style="color: Black;" class="mycode_color"><span style="text-decoration: underline;" class="mycode_u">7- Xây dựng Đảng cách mạng vững mạnh,</span> kêu gọi mọi người ủng hộ và gia nhập Đảng, phải có tổ chức chặt chẽ.<br />
</span>  <span style="color: Black;" class="mycode_color">Lần đầu tiên cách mạng Việt Nam có một bản cương lĩnh chính trị phản ánh được quy luật khách quan của xã hội Việt Nam, đáp ứng những nhu cầu cơ bản và cấp bách của xã hội Việt Nam, phù hợp với xu thế của thời đại.  Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Cương lĩnh ấy rất phù hợp với nguyện vọng thiết tha của đại đa số nhân dân ta... Vì vậy, Đảng đã đoàn kết được những lực lượng cách mạng to lớn chung quanh giai cấp mình. Còn các đảng phái của các giai cấp khác thì hoặc bị phá sản, hoặc bị cô lập. Do đó, quyền lãnh đạo của Đảng ta - Đảng của giai cấp công nhân - không ngừng củng cố và tăng cường".         </span><br />
 <br />
 <span style="color: #ffffff;" class="mycode_color"> <br />
 <span style="color: #ff0000;" class="mycode_color"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">Câu 2: ý nghĩa ra đời đảng cộng sản việt nam:</span></span><br />
 </span> <br />
 <br />
 <br />
 <span style="color: black;" class="mycode_color">- Đảng Cộng sản Việt </span><span style="color: black;" class="mycode_color">Nam</span><span style="color: black;" class="mycode_color"> ra đời với Cương lĩnh đầu tiên của Đảng đã mở ra thời kì mới cho cách mạng Việt </span><span style="color: black;" class="mycode_color">Nam</span><span style="color: black;" class="mycode_color">: thời kì đấu tranh giành độc lập dân tộc tiến lên chủ nghĩa xã hội. Cương lĩnh đầu tiên của Đảng đã xác định được những nội dung cơ bản nhất của con đường cách mạng Việt </span><span style="color: black;" class="mycode_color"><span style="color: #ffcc00;" class="mycode_color">Nam</span><span style="color: #ffcc00;" class="mycode_color">. Cương lĩnh ra đời đã đáp ứng được những nhu cầu bức thiết của lịch sử và trở thành ngọn cờ tập hợp, thống nhất các tổ chức cộng sản, các lực lượng cách mạng và toàn thể dân tộc trong sự nghiệp đấu tranh vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. </span><br />
</span>  <span style="color: black;" class="mycode_color">Cách mạng Việt </span><span style="color: black;" class="mycode_color">Nam</span><span style="color: black;" class="mycode_color"> từ đây có đường lối cách mạng đúng đắn và tổ chức cách mạng tiên phong lãnh đạo, chấm dứt sự khủng hoảng và bế tắc về con đường cứu nước: “Từ cuối thế kỷ XIX đến những thập niên đầu thế kỷ XX, nhân dân ta liên tiếp nổi dậy chống chủ nghĩa thực dân. Tiếp nối các phong trào Văn Thân và Cần Vư*ơng, phong trào yêu n*ớc ba mư*ơi năm đầu thế kỷ XX diễn ra vô cùng anh dũng, từ khởi nghĩa Yên Thế và các phong trào Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thục, Duy Tân đến khởi nghĩa Yên Bái… như*ng không thành công vì thiếu một đư*ờng lối đúng”. “Năm 1930, kế thừa “Hội Việt </span><span style="color: black;" class="mycode_color">Nam</span><span style="color: black;" class="mycode_color"> cách mạng thanh niên” và các tổ chức cộng sản tiền thân, Đảng cộng sản Việt </span><span style="color: black;" class="mycode_color">Nam</span><span style="color: black;" class="mycode_color"> ra đời, đánh dấu b*ước ngoặt của cách mạng Việt </span><span style="color: black;" class="mycode_color">Nam</span><span style="color: black;" class="mycode_color">”.<br />
</span>  <span style="color: black;" class="mycode_color">- Đảng Cộng sản Việt </span><span style="color: black;" class="mycode_color">Nam</span><span style="color: black;" class="mycode_color"> ra đời là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt </span><span style="color: black;" class="mycode_color">Nam</span><span style="color: black;" class="mycode_color">. Điều đó nói lên quy luật ra đời của Đảng và cũng chứng tỏ giai cấp công nhân mà đội tiên phong là Đảng Cộng sản Việt Nam đã trưởng thành và có đủ những yếu tố cơ bản nhất để khẳng định sự đảm nhiệm vai trò lãnh đạo đối với cách mạng Việt Nam. Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng đánh dấu bước phát triển vế chất của cách mạng Việt </span><span style="color: black;" class="mycode_color"><span style="color: #ffcc00;" class="mycode_color">Nam</span><span style="color: #ffcc00;" class="mycode_color">.   </span><br />
</span>  <span style="color: black;" class="mycode_color">- Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập khẳng định dứt khoát con đường đi lên của dân tộc Việt Nam từ 1930 là con đường cách mạng vô sản. Đó là sự lựa chọn của chính nhân dân Việt </span><span style="color: black;" class="mycode_color">Nam</span><span style="color: black;" class="mycode_color">, chính lịch sử dân tộc Việt </span><span style="color: black;" class="mycode_color">Nam</span><span style="color: black;" class="mycode_color"> trong quá trình tìm con đường giải phóng dân tộc.<br />
</span>  <span style="color: black;" class="mycode_color">Sự ra đời Đảng Cộng sản Việt Nam và Cư*ơng lĩnh đư*ợc thông qua ở Hội nghị thành lập Đảng, từ năm 1930 cách mạng Việt Nam có đư*ợc đư*ờng lối chính trị toàn diện đề ra mục tiêu và ph*ương pháp đấu tranh thích hợp, giải quyết triệt để những mâu thuẫn cơ bản của xã hội, đồng thời có đư*ợc tổ chức Đảng cách mạng để lãnh đạo và tổ  chức phong trào cách mạng.  Sự ra đời của Đảng đã tạo những tiền đề và điều kiện để đ*ưa cách mạng Việt </span><span style="color: black;" class="mycode_color">Nam</span><span style="color: black;" class="mycode_color"> đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác trên con đường giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc và xây dựng đất nước .<br />
</span>  <span style="color: black;" class="mycode_color">Sự đúng đắn của <span style="font-style: italic;" class="mycode_i">Cương lĩnh chính trị đầu tiên</span> đã được khẳng định bởi quá trình khảo nghiệm của lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước quá độ đi lên CNXH của dân tộc ta từ khi Đảng ra đời và đến nay vẫn là ngọn cờ dẫn dắt nhân dân ta trong công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vì mục tiêu "dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh".</span><br />
 <br />
 <span style="color: #ffffff;" class="mycode_color"> <br />
 <span style="color: #ff0000;" class="mycode_color"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">Câu 3: trình bày nội dung cơ bản cương lĩnh chính trị của đảng</span></span><span style="color: #ffcc00;" class="mycode_color">:</span><br />
 </span> <br />
 <br />
  <br />
  <br />
 <br />
 <span style="color: black;" class="mycode_color">Nam</span><span style="color: black;" class="mycode_color"> là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt </span><span style="color: black;" class="mycode_color">Nam</span><span style="color: black;" class="mycode_color">. Đảng "thu phục cho được đại bộ phận giai cấp mình, phải làm cho giai cấp mình lãnh đạo được dân chúng... phải thu phục cho được đại bộ phận dân cày và phải dựa vào hạng dân cày nghèo làm thổ địa cách mạng đánh trúc bọn đại địa chủ và phong kiến", đồng thời phải liên minh với các giai cấp cách mạng và tầng lớp yêu nước khác, đoàn kết họ, tổ chức họ đấu tranh cho giai phóng dân tộc và để đi tới chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản. <br />
- Cương lĩnh đâu tiên là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo học thuyết Mác - Lênin, đường lối của Quốc tế cộng sản và kinh nghiệm cách mạng thế giới vào hoàn cảnh cụ thể nước ta, là sự thể hiện tập trung tư tưởng cơ bản của đồng chí Nguyễn ái Quốc về cách mạng dân tộc dân chủ và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước thuộc địa nửa phong kiến. <br />
Nhưng không phải những giá trị tư tưởng, đường lối đúng đắn trên đã được mọi người nhận thức, quán triệt. Hội nghị Ban chấp hành trung ương Đảng tháng 10 nǎm 1930 đã phê phán những "sai lầm" của Hội nghị hợp nhất và quyết định "thủ tiêu Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt và Điều lệ" của Đảng, thông qua Luận cương chính trị theo tinh thần chỉ thị củaQuốc tế cộng sản, đổi tên đảng là "Đảng cộng sản Đông Dương ". <br />
Sở dĩ có vấn đề chưa thống nhất giữa Cương lĩnh đầu tiên do Hội nghị thành lập Đảng vạch ra với Luận cương chính trị và các vǎn kiện của Hội nghị trung ương Đảng tháng l0-1930 là vì không chỉ do kết hợp hay tách rời yếu tố giai cấp với yếu tố dân tộc, mà còn do xác định đúng hay chưa đúng vị trí của mỗi yếu tố đó trong điều kiện cụ thể của nước ta. Đồng chí Nguyễn ái Quốc đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, đánh giá đúng hơn và đầy đủ hơn yếu tố dân tộc trong cách mạng Việt </span><span style="color: black;" class="mycode_color">Nam</span><span style="color: black;" class="mycode_color">. <br />
Tuy bị phê phán, nhưng thực tiễn cách mạng Việt </span><span style="color: black;" class="mycode_color">Nam</span><span style="color: black;" class="mycode_color"> đã chứng minh cho sự đúng đắn, sáng tạo của Cương lĩnh đầu tiên. <br />
Sau 30 nǎm đấu tranh và thắng lợi của cách mạng Việt </span><span style="color: black;" class="mycode_color">Nam</span><span style="color: black;" class="mycode_color">, Chủ tịch Hồ Chí Minh; (tức đồng chí Nguyễn ái Quốc) đã viết: "Cương lĩnh ấy rất phù hợp với nguyện vọng thiết tha của đại đa số nhân dân ta... Vì vậy, Đảng ta đã đoàn kết được những lực lượng cách mạng to lớn chung quanh giai cấp mình. <br />
Còn các đảng phái của các giai cấp khác thì hoặc bị phá sản, hoặc bị cô lập. Do đó, quyền lãnh đạo của Đảng ta - Đảng của giai cấp công nhân không ngừng củng cố và tǎng cường".</span><br />
 <span style="color: #ff0000;" class="mycode_color"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">Câu 4 : kết quả ,ý nghĩa và nguyên nhân thắng lợi và bài học kinh nghiệm cách mạng 8-1945</span></span><br />
 <span style="color: black;" class="mycode_color">Phân tích thời cơ bùng nổ cuộc cách mạng tháng 8 năm 1945? Những nguyên nhân thắng lợi, ý nghĩa lịch sử và những bài học kinh nghiệm?<br />
1. Nguyên nhân thắng lợi :<br />
* Nguyên nhân khách quan: Cách mạnh tháng 8 nổ ra trong hoàn cảnh quốc tế vô cùng thuận lợi. Đó là lúc phe phát xít đã bại trận. Kẻ thù trực tiếp của nhân dân Việt </span><span style="color: black;" class="mycode_color">Nam</span><span style="color: black;" class="mycode_color"> là phát xít Nhật đã phải đầu hàng đồng minh. Quân đội Nhật ở Đông Dương mất hết tinh thần chiến đấu. Chính phủ thân Nhật Trần Trọng Kim hoang mang, rệu rã.<br />
* Nguyên nhân chủ quan:<br />
- Đó là kết quả của 15 năm đấu tranh gian khổ, đầy hy sinh của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, là kết quả tổng hợp của 3 cao trào cách mạng.<br />
- Đó là sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Đông Dương. Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là điều kiện cơ bản, quyết định thắng lợi của cách mạng Tháng Tám năm 1945.<br />
2. Ý nghĩa lịch sử:<br />
* Đối với dân tộc:<br />
- Cách mạng Tháng Tám đã đập tan ách thống trị của đế quốc và phong kiến, lập ra nước Việt </span><span style="color: black;" class="mycode_color">Nam</span><span style="color: black;" class="mycode_color"> dân chủ cộng hoà.<br />
- Cách mạng tháng 8 năm 1945 đã đánh dấu một trang sử vẻ vang của dân tộc ta, đánh dấu sự đổi đời của một dân tộc. Cách mạng Tháng Tám đã đưa nước ta từ một nước thuộc địa trở thành một nước độc lập dân chủ, đưa Đảng ta từ một Đảng không hợp pháp trở thành một Đảng nắm chính quyền, đưa dân tộc ta lên hàng các dân tộc tiên phong trên thế giới.<br />
- Cách mạng Tháng Tám đã mở ra một kỷ nguyên mới cho cách mạng nước ta- kỷ nguyên của độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội.<br />
- Cách mạng tháng Tám là minh chứng hùng hồn cho vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân Việt </span><span style="color: black;" class="mycode_color">Nam</span><span style="color: black;" class="mycode_color"> với đội tiên phong của mình là Đảng Cộng sản. Đây là một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc điển hình do Đảng Cộng sản lãnh đạo, là thắng lợi đầu tiên của chủ nghĩa Mác- Lênin ở một nước thuộc địa.<br />
* Đối với quốc tế:<br />
- Cách mạng Tháng Tám đã nâng cao vị thế quốc tế của dân tộc Việt </span><span style="color: black;" class="mycode_color">Nam</span><span style="color: black;" class="mycode_color">. Lần đầu tiên một dân tộc nhược tiểu đã tự giải phóng khỏi ách đế quốc thực dân.<br />
-Cách mạng Tháng Tám đã phá tan một mắt xích quan trọng của chủ nghĩa đế quốc, mở đầu cho sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ.<br />
- Thắng lợi của cách mạng tháng Tám đã cổ vũ mạnh mẽ phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa trong cuộc đấu tranh giành độc lập.<br />
3. Những bài học kinh nghiệm:<br />
Cách mạng tháng Tám thành công đã để lại cho Đảng ta và nhân dân Việt nam nhiều bài học quý báu, góp phần làm phong phú thêm kho tàng lý luận về cách mạng giải phóng dân tộc và khởi nghĩa dân tộc. Đó là những bài học chính sau đây:<br />
- Một là: Gương cao ngọn cờ độc lập dân tộc, kết hợp đúng đắn hai nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến. Tuy 2 nhiệm vụ không tách rời nhau nhưng chống đế quốc phải là nhiệm vụ hàng đầu, chống phong kiến phải phục tùng nhiệm vụ chống đế quốc và phải thực hiện từng bước với những khẩu hiệu thích hợp. Đường lối này đã được khẳng định trong đường lối cứu nước của Nguyễn Ái Quốc và trở thành cương lĩnh của Đảng ta.<br />
- Hai là: Toàn dân nổi dậy trên nền tảng khối liên minh Công – Nông.<br />
- Ba là: Lợi dụng mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ thù.<br />
- Bốn là: Kiên quyết dùng bạo lực cách mạng và biết sử dụng bạo lực cách mạng một cách<br />
thích hợp để đập tan bộ máy nhà nước cũ, lập ra bộ máy nhà nước của nhân dân.<br />
- Năm là: Nắm vững nghệ thuật khởi nghĩa, nghệ thuật chớp đúng thời cơ.<br />
-Sáu là: Xây dựng một Đảng Mác-Lênin đủ sức lãnh đạo tổng khởi nghĩa giành chính quyền<br />
Tóm lại: Thắng lợi của cách mạng tháng 8-1945 là kết quả tất yếu của 15 năm chuẩn bị chu đáo của Đảng ta, là kết quả của cuộc đấu tranh yêu nước rộng lớn của dân tộc, sự hy sinh anh dũng của đồng bào, đồng chí cho sự nghiệp giải phóng dân tộc.</span><br />
 <span style="color: #ff0000;" class="mycode_color"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">Câu 5: trình bày đường lối kháng chiến chống thực dân pháp</span></span><br />
 <span style="color: black;" class="mycode_color">- Năm 1858 thực dân Pháp xâm luợc nước ta. Ngày 6-6-1884 triều đình Nguyễn ký hiệp ước Patơnốt thừa nhận sự thống trị của thực dân Pháp, chia nước ta thành 3 kỳ với 3 chế độ chính trị khác nhau, vừa xây dựng hệ thống chính quyền thuộc địa, vừa duy trì chính quyền phong kiến và tay sai làm chổ dựa. Mọi quyền hành đều trong tay người Pháp, với âm mưu thâm độc thực hiện chính sách chia để trị, chính sách ngu dân, chính sách độc quyền về kinh tế, ra sức vơ vét tài nguyêm bóc lột sức lao động rẻ mạt của người bản xứ, cừng nhiều hình thức thuế khoá năng nề, vô lý. <br />
</span>  <span style="color: black;" class="mycode_color">- Trước những áp bức bóc lột dã man của thực dân Pháp, nhân dân ta đã liên tiếp nổi dậy cầm vũ khí chống bọn cướp nước. Nhưng tất cả những cuộc đấu tranh đó đều không giành được thắng lơi. Giai cấp địa chủ phong kiên mà tiêu biểu là triều đình nhà Nguyễn đã bất lực và hèn nhát nhanh chóng đầu hàng thực dân Pháp và trở thành phản động, phản bội lại lợi ích của dân tộc.<br />
</span>  <span style="color: black;" class="mycode_color">Phong trào chống Pháp theo ý thức hệ phong kiến: phong trào Cần Vương đã thất bại khi cuộc khởi nghĩa của Phan Đình Phùng chấm dứt năm   1896; phong trào khởi nghĩa nông dân Yên Thế của Hoàng Hoa Thám kéo dài 30 năm cũng không giành được thắng lợi. Nguyên nhân là do thiếu đường lối đúng, thiếu một tổ chức cách mạng có khả năng dẫn dắt dân tộc đến thắng lợi. Điều này chứng tỏ rằng, thời kỳ đấu tranh chống ngoại xâm trong khuôn khổ ý thức hệ tư tưởng phong kiến đã chấm dứt.Cuộc đấu tranh của nhân dân ta rơi vào tình trạng khủng hoảng về đường lối cứu nước, về giai cấp lãnh đạo cách mạng.<br />
</span>  <span style="color: black;" class="mycode_color">- Vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, Việt </span><span style="color: black;" class="mycode_color"><span style="color: #ffcc00;" class="mycode_color">Nam</span><span style="color: #ffcc00;" class="mycode_color"> cũng như một số nước phương Đông khác đã ít nhiều chịu sự chi phối của ý thức hệ tư sản. Đặc biệt cách mạng Minh Trị ở Nhật Bản (l868), cuộc cách mạng Tân Hợi ở Trung Quốc (1911) đã có tác động nhất định tới phong trào yêu nước ở Việt Nam,  làm dấy lên ở nước ta một phong trào yêu nước rộng rãi theo khuynh hướng tu sản nhưng đều thất bại. Tiêu biểu là phong trào của cụ Phan Bội Châu, cụ Phan Chu Trinh, phong trào Duy Tân của vua Duy Tân. Điều này chứng tỏ sự bất lực của giai cấp tư sản Việt </span><span style="color: #ffcc00;" class="mycode_color">Nam</span><span style="color: #ffcc00;" class="mycode_color">, rằng giai cấp tư sản Việt </span><span style="color: #ffcc00;" class="mycode_color">Nam</span><span style="color: #ffcc00;" class="mycode_color"> không đủ khả năng giương cao ngọn cờ lãnh đạo đưa cách mạng Việt </span><span style="color: #ffcc00;" class="mycode_color">Nam</span><span style="color: #ffcc00;" class="mycode_color"> đi đến thắng lợi. </span><br />
</span>  <span style="color: black;" class="mycode_color">Tình hình khủng hoảng, bế tắc về con đường cứu nước giải phóng dân tộc, yêu cầu lịch sử đòi hỏi phải có một tổ chức cách mạng tiên phong, có đường lối cách mạng đúng đắn dẫn đường, mới có khả năng đưa phong trào cứu nước đi đến thắng lợi.<br />
</span>  <span style="color: black;" class="mycode_color">Câu 6: nội dung cơ bản và ý nghĩa  đường lối kháng chiến của mỹ cứu nước 1965-1975<br />
</span>  <span style="color: black;" class="mycode_color">1. Làm cho toàn Đảng, toàn dân hiểu rõ những vấn đề sau:<br />
</span>  <span style="color: black;" class="mycode_color">- Sự chuyển biến của tình hình, miền Bắc không còn ở trong thời kỳ xây dựng hoà bình nữa, mà đã bắt đầu ở vào thời chiến.<br />
</span>  <span style="color: black;" class="mycode_color">- So sánh lực lượng giữa ta và địch. Nhấn mạnh những thuận lợi của ta và thất bại nghiêm trọng của Mỹ, cho nên ta nhất định sẽ thắng, Mỹ nhất định sẽ thất bại hoàn toàn.<br />
</span>  <span style="color: black;" class="mycode_color">- Giải phóng miền </span><span style="color: black;" class="mycode_color">Nam</span><span style="color: black;" class="mycode_color"> là trách nhiệm chung của nhân dân cả nước và cả nước đều phải tham gia đánh giặc. Cần phải xác định rõ “Miền Bắc dù có bị ném bom bắn phá đến đâu cũng phải vì giải phóng miền </span><span style="color: black;" class="mycode_color">Nam</span><span style="color: black;" class="mycode_color"> mà không chút nao núng, nâng cao chí khí căm thù và quyết tâm thắng địch”(3). Phải đẩy mạnh phong trào “ba sẵn sàng” với nội dung và yêu cầu mới. Cần phải xây dựng tác phong tích cực, khẩn trương của thời chiến.<br />
</span>  <span style="color: black;" class="mycode_color">2. Phải ra sức xây dựng tư tưởng phấn khởi và tin tưởng, quyết chiến quyết thắng đế quốc Mỹ và tay sai, tư tưởng sẵn sàng chiến đấu và công tác ở bất cứ nơi nào theo tiếng gọi của Đảng và của Tổ quốc; tư tưởng sẵn sàng đánh bại bất cứ loại chiến tranh nào của địch, sẵn sàng khắc phục mọi khó khăn gian khổ, sẵn sàng chiến đấu lâu dài chống Mỹ với tinh thần tự lực cánh sinh cao; chống tư tưởng sợ Mỹ, đánh giá địch quá cao, hoặc chủ quan khinh địch; tư tưởng hoang mang, dao động, cầu an; tư tưởng muốn đàm phán khi chưa có điều kiện có lợi, muốn kết thúc chiến tranh với bất cứ giá nào; tư tưởng ỷ lại vào sự giúp đỡ của nước ngoài và không tin vào sức mình.<br />
</span>  <span style="color: black;" class="mycode_color">Như vậy, “chuyển hướng tư tưởng” ở đây có thể hiểu một cách ngắn gọn là: chuyển từ nội dung và phương pháp tư tưởng ở thời bình sang nội dung và phương pháp tư tưởng ở thời chiến, trong đó bao gồm những nội dung cụ thể là đế quốc Mỹ dù có mạnh đến mấy chúng ta cũng nhất định thắng; miền Bắc dù có bị bắn phá đến đâu cũng phải quyết tâm cùng miền Nam đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Cốt lõi của vấn đề chuyển hướng tư tưởng là làm cho nhân dân miền Bắc thấy rõ tình hình mới của đất nước, từ đó có sự đồng thuận tuyệt đối với Đảng, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược trong bất kỳ tình huống nào. <br />
</span>  <span style="color: black;" class="mycode_color">Chủ trương “chuyển hướng tư tưởng” của Hội nghị Trung ương 11 được tiếp tục khẳng định và bổ sung ở Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 12 (12-1965). Và Hội nghị xác định nhiệm vụ của công tác tư tưởng là:<br />
</span>  <span style="color: black;" class="mycode_color">- Giáo dục cho toàn Đảng, toàn dân nhận rõ nhiệm vụ lịch sử vô cùng vẻ vang của nhân dân ta là chiến đấu chống một kẻ thù mạnh nhất và nguy hiểm nhất của loài người là đế quốc Mỹ, làm cho mọi người tin tưởng vững chắc rằng với đường lối đúng đắn của Đảng, với tinh thần dũng cảm chiến đấu của quân và dân ta, chúng ta có thể đánh bại bất cứ loại chiến tranh nào của đế quốc Mỹ. <br />
</span>  <span style="color: black;" class="mycode_color">- Giáo dục chủ nghĩa anh hùng cách mạng cho nhân dân, nhất là cho bộ đội và thế hệ thanh niên, làm cho mọi người sẵn sàng chịu đựng mọi gian khổ, hy sinh, khắc phục mọi khó khăn để hoàn thành bất cứ nhiệm vụ nào, chiến đấu anh dũng với bất cứ kẻ thù nào, đánh bại bất cứ loại chiến tranh nào của địch. <br />
</span>  <span style="color: black;" class="mycode_color">- Làm cho mọi cán bộ, đảng viên và quần chúng hiểu rõ trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân ta ở miền Bắc là phải tích cực tham gia sự nghiệp giải phóng miền Nam, phục vụ không điều kiện cho tiền tuyến miền Nam và hết sức giúp đỡ cách mạng Lào, làm cho mọi người hăng hái dốc sức ra làm tròn bất cứ nhiệm vụ nào của Đảng và chính phủ giao phó. <br />
</span>  <span style="color: black;" class="mycode_color">Như vậy, chủ trương “chuyển hướng tư tưởng” ở miền Bắc được Đảng ta xác định từ Hội nghị Trung ương lần thứ 11 (3-1965) và tiếp tục được khẳng định, bổ sung, cụ thể hoá ở Hội nghị Trung ương lần thứ 12 (12-1965) cùng các chỉ thị, nghị quyết sau đó của Trung ương về công tác tư tưởng. Nội dung cơ bản của chủ trương là chuyển hướng công tác tư tưởng của Đảng theo hướng: Làm cho toàn thể nhân dân miền Bắc hiểu rõ tình hình miền Bắc không còn ở trong thời bình nữa mà đã chuyển sang thời chiến; nhiệm vụ thiêng liêng nhất của toàn Đảng toàn quân và toàn dân ta lúc này là nhiệm vụ chống Mỹ, cứu nước; toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta phải quyết tâm đánh Mỹ và thắng Mỹ trong bất kể tình huống nào. Nhiệm vụ quan trọng, cấp bách nhất được Trung ương nhấn mạnh nhiều lần, đó là công tác tuyên truyền của Đảng phải tập trung khơi dậy và phát huy mạnh mẽ tinh thần yêu nước của nhân dân; giáo dục chủ nghĩa anh hùng cách mạng và tư tưởng quyết chiến, quyết thắng giặc Mỹ xâm lược trong toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, dù phải hy sinh, gian khổ đến mấy.<br />
</span>  <span style="color: black;" class="mycode_color">Đó là một chủ trương đúng đắn và có ý nghĩa to lớn trong việc chỉ đạo công tác tuyên truyền, cổ động của Đảng ở miền Bắc thời gian này. Từ chủ trương này, những vấn đề căn bản nhất của công tác tư tưởng nói chung, công tác tuyên truyền, cổ động nói riêng được xác định kịp thời và chính xác. Nhờ đó, công tác tuyên truyền, cổ động chính trị của Đảng ở miền Bắc được triển khai mạnh mẽ, rầm rộ và liên tục trong suốt những năm ác liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, góp phần to lớn vào việc động viên, cổ vũ tinh thần chiến đấu và sản xuất của nhân dân miền Bắc, biến sức mạnh tinh thần đó thành sức mạnh vật chất vượt qua mọi gian nan, thử thách, giành thắng lợi cuối cùng trong cuộc chiến đấu không cân sức giữa dân tộc ta và đế quốc Mỹ. Chuyển hướng tư tưởng của Đảng ở miền Bắc những năm 65-75 là một bài học vô cùng quý giá, thiết nghĩ chúng ta cần nghiên cứu sâu sắc và vận dụng trong giai đoạn hiện nay – giai đoạn hội nhập và phát triển đất nước vì “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”./.</span><br />
 <span style="color: #ff0000;" class="mycode_color"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">Câu 7: quá trình đổi mới tư duy của đảng về công nghiệp hóa đất nước từ 1986 đến nay</span>:</span><br />
 <span style="color: black;" class="mycode_color">Đại hội VI của Đảng diễn ra trong bối cảnh sai lầm của đợt tổng cải cách giá - lương - tiền cuối năm 1985 làm cho kinh tế nước ta càng trở nên khó khăn (tháng 12-1986, giá bán lẻ hàng hoá tăng 845,3%). Chúng ta không thực hiện được mục tiêu đề ra là cơ bản ổn định tình hình kinh tế - xã hội, ổn định đời sống nhân dân. Số người bị thiếu đói tăng, bội chi lớn. Nền kinh tế nước ta lâm vào khủng hoảng trầm trọng. Tình hình này làm cho trong Đảng và ngoài xã hội có nhiều ý kiến tranh luận sôi nổi, xoay quanh thực trạng của ba vấn đề lớn: cơ cấu sản xuất; cải tạo xã hội chủ nghĩa; cơ chế quản lý kinh tế. Thực tế tình hình đặt ra một yêu cầu khách quan có tính sống còn đối với sự nghiệp cách mạng là phải xoay chuyển được tình thế, tạo ra sự chuyển biến có ý nghĩa quyết định trên con đường đi lên và như vậy phải đổi mới tư duy.<br />
Với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thực, nói rõ sự thật, Đại hội đã đánh giá đúng mức những thành tựu đạt được sau 10 năm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đi sâu phân tích những tồn tại và nghiêm khắc tự phê bình những sai lầm, khuyết điểm trong lãnh đạo và chỉ đạo của Đảng trong 10 năm (1976-1986).<br />
Đại hội khẳng định quyết tâm đổi mới công tác lãnh đạo của Đảng theo tinh thần cách mạng và khoa học và đánh giá cao quá trình dân chủ hóa sinh hoạt chính trị của Đảng và nhân dân ta trong thời gian chuẩn bị và tiến hành Đại hội.<br />
Đại hội đã đánh giá những thành tựu, những khó khăn của đất nước do cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội tạo ra, những sai lầm kéo dài của Đảng về chủ trương, chính sách lớn, về chỉ đạo chiến lược và tổ chức thực hiện khuynh hướng tư tưởng chủ yếu của những sai lầm đó, đặc biệt là sai lầm về kinh tế là bệnh chủ quan duy ý chí, lối suy nghĩ về hành động đơn giản, nóng vội chạy theo nguyện vọng chủ quan, là khuynh hướng buông lỏng trong quản lý kinh tế, xã hội, không chấp hành nghiêm chỉnh đường lối và nguyên tắc của Đảng đó là tư tưởng vừa tả khuynh vừa hữu khuynh. Báo cáo chính trị tổng kết thành bốn bài học kinh nghiệm lớn:<br />
Một là, trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng "lấy dân làm gốc".<br />
Hai là, Đảng phải luôn luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan.<br />
Ba là, phải biết kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong điều kiện mới.<br />
Bốn là, chăm lo xây dựng Đảng ngang tầm với một đảng cầm quyền lãnh đạo nhân dân tiến hành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa.<br />
Báo cáo xác định nhiệm vụ bao trùm, mục tiêu tổng quát trong những năm còn lại của chặng đường đầu tiên là ổn định mọi mặt tình hình kinh tế- xã hội, tiếp tục xây dựng những tiền đề cần thiết cho việc đẩy mạnh công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa trong chặng đường tiếp theo.<br />
Mục tiêu cụ thể về kinh tế - xã hội cho những năm còn lại của chặng đường đầu tiên là:<br />
- Sản xuất đủ tiêu dùng và có tích luỹ.<br />
- Bước đầu tạo ra một cơ cấu kinh tế hợp lý, trong đó đặc biệt chú trọng ba ch-ương trình kinh tế lớn là lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu, coi đó là sự cụ thể hóa nội dung công nghiệp hoá trong chặng đường đầu của thời kỳ quá độ. Làm cho thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa giữ vai trò chi phối, sử dụng mọi khả năng của các thành phần kinh tế khác trong sự liên kết chặt chẽ, dưới sự chỉ đạo của thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa. Tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa theo nguyên tắc phát triển sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh tế và tăng thu nhập cho người lao động.<br />
- Xây dựng và hoàn thiện một bước quan hệ sản xuất mới phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.<br />
- Tạo ra chuyển biến về mặt xã hội, việc làm, công bằng xã hội, chống tiêu cực, mở rộng dân chủ, giữ kỷ cương phép nước.<br />
- Bảo đảm nhu cầu củng cố quốc phòng và an ninh.<br />
Đại hội đã nêu ra năm phương hướng cơ bản của chính sách kinh tế - xã hội và đề ra hệ thống các giải pháp để thực hiện mục tiêu: Bố trí lại cơ cấu sản xuất, điều chỉnh lớn cơ cấu đầu tư; xây dựng và củng cố quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, sử dụng và cải tạo đúng đắn các thành phần kinh tế. Coi nền kinh tế có nhiều thành phần là một đặc trưng của thời kỳ quá độ; đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, dứt khoát xoá bỏ cơ chế quản lý tập trung quan liêu, bao cấp, chuyển sang cơ chế kế hoạch hoá theo phương thức hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa; phát huy động lực của khoa học - kỹ thuật; mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại.<br />
</span>  <span style="color: black;" class="mycode_color"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">Câu 8: kinh tế tri thức :</span><br />
</span>  [COLOR=black]"Là nền kinh tế sử dụng một cách hiệu quả tri thức cho sự phát triển KT-XH. Điều này bao gồm việc chuyển giao, cải tiến công nghệ nước ngoài cũng như sự thích hợp hoá và sáng tạo hoá các tri thức cho những nhu cầu riêng biệt". Theo Giáo sư, Viện sĩ Đặng Hữu - Trưởng ban Công nghệ thông tin thì "Kinh tế tri thức là nền kinh tế trong đó sự sản sinh ra, phổ cập và sử dụng tri thức giữ vai trò quyết định đối với sự phát triển kinh tế, tạo ra của cải, nâng cao chất lượng cuộc sống". <br />
Theo định nghĩa của WBI - là "nền kinh tế dựa vào tri thức như động lực chính cho tăng trưởng kinh tế. Đó là nền kinh tế trong đó kiến thức được lĩnh hội, sáng tạo, phổ biến và vận dụng để thúc đẩy phát triển". Tại hội thảo, Jean-Eric Aubert, chuyên gia hàng đầu của WBI, nói cụ thể hơn: "Phải phân biệt đó không phải là nền kinh tế dựa vào công nghệ và viễn thông! Kinh tế tri thức là đặt tri thức, sáng tạo và các chính sách liên quan đến chúng vào trọng tâm của chiến lược phát triển cho tất cả các nước ở nhiều mức độ phát triển khác nhau"<br />
Như vậy, kinh tế tri thức là lực lượng sản xuất của thế kỷ 21. Đặc trưng của nền kinh tế tri thức là thị trường chất xám. Trong đó, con người là vốn quý nhất. Tri thức là yếu tố quyết định của sản xuất, sáng tạo đổi mới là động lực thúc đẩy sản xuất phát triển. Công nghệ mới trở thành nhân tố quan trọng hàng]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[Đường Lối Cách Mạng Của Đảng Cộng Sản Việt Nam]]></title>
			<link>https://dd.sinhvienhoahoc.net/thread-1217.html</link>
			<pubDate>Mon, 29 Mar 2010 20:03:48 +0700</pubDate>
			<dc:creator><![CDATA[<a href="https://dd.sinhvienhoahoc.net/member.php?action=profile&uid=2">08HH</a>]]></dc:creator>
			<guid isPermaLink="false">https://dd.sinhvienhoahoc.net/thread-1217.html</guid>
			<description><![CDATA[<span style="font-size: 3pt;" class="mycode_size"><span style="color: Blue;" class="mycode_color">Thế giới ngày nay đang nhanh chóng đổi mới. Chủ nghĩa xã hội phải phấn đấu để chứng minh tính ưu việt của mình về mọi mặt so với chủ nghĩa tư bản.Đối với các nước xã hội chủ nghĩa đổi mới là con đường để vươn lên đáp ứng yêu cầu thời đại, đáp ứng với nhu cầu chính đáng và ngày càng cao của nhân dân.</span></span><br /><!-- start: postbit_attachments_attachment -->
<div style="padding:4px 0px;"><span class="inline-block vmiddle"><!-- start: attachment_icon -->
<img src="https://dd.sinhvienhoahoc.net/images/attachtypes/doc.png" title="Microsoft Word Document" alt=".doc" />
<!-- end: attachment_icon --></span>
<a  class="vmiddle inline-block" href="attachment.php?aid=100" target="_blank">Duong loi CM cua DCS Viet nam -sinhviencnhh.net.doc</a> <span class="smalltext float_right">Kích thước: <span class="inline-block vmiddle">346.5 KB</span>&nbsp;&nbsp;Tải về: <span class="inline-block vmiddle">29</span></span>
</div>
<!-- end: postbit_attachments_attachment -->]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<span style="font-size: 3pt;" class="mycode_size"><span style="color: Blue;" class="mycode_color">Thế giới ngày nay đang nhanh chóng đổi mới. Chủ nghĩa xã hội phải phấn đấu để chứng minh tính ưu việt của mình về mọi mặt so với chủ nghĩa tư bản.Đối với các nước xã hội chủ nghĩa đổi mới là con đường để vươn lên đáp ứng yêu cầu thời đại, đáp ứng với nhu cầu chính đáng và ngày càng cao của nhân dân.</span></span><br /><!-- start: postbit_attachments_attachment -->
<div style="padding:4px 0px;"><span class="inline-block vmiddle"><!-- start: attachment_icon -->
<img src="https://dd.sinhvienhoahoc.net/images/attachtypes/doc.png" title="Microsoft Word Document" alt=".doc" />
<!-- end: attachment_icon --></span>
<a  class="vmiddle inline-block" href="attachment.php?aid=100" target="_blank">Duong loi CM cua DCS Viet nam -sinhviencnhh.net.doc</a> <span class="smalltext float_right">Kích thước: <span class="inline-block vmiddle">346.5 KB</span>&nbsp;&nbsp;Tải về: <span class="inline-block vmiddle">29</span></span>
</div>
<!-- end: postbit_attachments_attachment -->]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[Tư tưởng Hồ Chí Minh - Giáo trình môn tư tưởng Hồ Chí Minh]]></title>
			<link>https://dd.sinhvienhoahoc.net/thread-1001.html</link>
			<pubDate>Fri, 29 Jan 2010 11:16:45 +0700</pubDate>
			<dc:creator><![CDATA[<a href="https://dd.sinhvienhoahoc.net/member.php?action=profile&uid=2">08HH</a>]]></dc:creator>
			<guid isPermaLink="false">https://dd.sinhvienhoahoc.net/thread-1001.html</guid>
			<description><![CDATA[Tiêu đề        Tư tưởng Hồ Chí Minh<br />
        <a href="http://sinhviencnhh.net/diendan/link.php?url=http%3A%2F%2Febook.edu.net.vn%2Fimages%2Fnode-p.gif" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url"><img src="http://ebook.edu.net.vn/images/node-p.gif" loading="lazy"  alt="[Image: node-p.gif]" class="mycode_img img-responsive" /></a> Tác giả:<br />
         PGS.TS Vũ Hồng Tiến<br />
        <a href="http://sinhviencnhh.net/diendan/link.php?url=http%3A%2F%2Febook.edu.net.vn%2Fimages%2Fnode-p.gif" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url"><img src="http://ebook.edu.net.vn/images/node-p.gif" loading="lazy"  alt="[Image: node-p.gif]" class="mycode_img img-responsive" /></a> Chuyên ngành:<br />
           / Khoa học xã hội<br />
        <a href="http://sinhviencnhh.net/diendan/link.php?url=http%3A%2F%2Febook.edu.net.vn%2Fimages%2Fnode-p.gif" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url"><img src="http://ebook.edu.net.vn/images/node-p.gif" loading="lazy"  alt="[Image: node-p.gif]" class="mycode_img img-responsive" /></a> Nguồn phát hành:<br />
         Khoa GDCT, ĐHSP Hà Nội<br />
        <a href="http://sinhviencnhh.net/diendan/link.php?url=http%3A%2F%2Febook.edu.net.vn%2Fimages%2Fnode-p.gif" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url"><img src="http://ebook.edu.net.vn/images/node-p.gif" loading="lazy"  alt="[Image: node-p.gif]" class="mycode_img img-responsive" /></a> Sơ lược:<br />
 <br />
 <span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">Thông tin giáo trình</span><br />
   <br />
  Học phần bao gồm 7 chương:<br />
   <a href="http://sinhviencnhh.net/diendan/link.php?url=http%3A%2F%2Febook.moet.gov.vn%2Fresources%2Fiportal%2Febook%2Fuploads%2FFile%2Fpics%2FttuongHCM.gif" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url"><img src="http://ebook.moet.gov.vn/resources/iportal/ebook/uploads/File/pics/ttuongHCM.gif" loading="lazy"  alt="[Image: ttuongHCM.gif]" class="mycode_img img-responsive" /></a> <br />
 <ul class="mycode_list"><li>Chương 1: Nguồn gốc, quá trình hình thành và phát triển, đối tượng, nhiệm vụ và ý nghĩa của việc học tập tư tưởng Hồ Chí Minh<br />
</li>
<li>Chương 2: Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và cách mạng giải phóng      dân tộc<br />
</li>
<li>Chương 3: Tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội và con đường quá độ      lên CNXH ở Việt Nam<br />
</li>
<li>Chương 4: Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc, kết hợp sức mạnh      dân tộc với sức mạnh thời đại<br />
</li>
<li>Chương 5: Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng Cộng sản Việt Nam và về nhà nước      của dân, do dân, vì dân<br />
</li>
<li>Chương 6: Tư tưởng đạo đức, nhân văn, văn hoá Hồ Chí Minh<br />
</li>
<li>Chương 7: Một số vấn đề vận dụng và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh      trong công cuộc đổi mới<br />
</li>
</ul>
<br />
  <br />
  <span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">Mục đích</span><br />
   <br />
 <ul class="mycode_list"><li>Cung cấp cho sinh viên những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí  Minh được bổ sung, làm phong phú những nguyên lý, quy luật, phạm trù  của chủ nghĩa Mác - Lênin từ đặc điểm đất nước ta. Nó làm cơ sở để Đảng  ta xác định đường lối, chiến lược, sách lược và phương pháp cách mạng  đúng đắn, sáng tạo trong mọi thời kỳ: giành, giữ và xây dựng đất nước  theo con đường XHCN.<br />
</li>
<li>Trên cơ sở đó nâng cao lòng tự hào về  truyền thống dân tộc Việt Nam, về Bác Hồ kính yêu, về Đảng Cộng sản Việt  Nam; giáo dục ý thức sống, chiến đấu, lao động và học tập theo gương  Bác Hồ vĩ đại. Học tập và rèn luyện theo mục tiêu đào tạo toàn diện, góp  phần xây dựng đất nước theo cương vị công tác được phân công sau khi ra  trường.<br />
</li>
</ul>
<br />
  <br />
  <span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">Yêu cầu</span><br />
 <br />
 Về kiến thức<br />
   <br />
 <ul class="mycode_list"><li>Làm rõ những khái niệm, phạm trù, quy luật của chủ nghĩa Mác -  Lênin được Hồ Chí Minh bổ sung, phát triển, khái quát từ tình hình thực  tế của Việt Nam.<br />
</li>
<li>Vị trí của tư tưởng Hồ Chí Minh được Đảng ta  quán triệt, vận dụng và xây dựng nên đường lối cách mạng đúng đắn, sáng  tạo trên mọi lĩnh vực, trong mỗi thời kỳ cách mạng nước ta, là sự thống  nhất biện chứng.<br />
</li>
<li>Cung cấp những kiến thức cơ bản về quá trình hình thành, phát triển và      những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh.<br />
</li>
</ul>
<br />
  <br />
  Về kỹ năng <br />
   <br />
 <ul class="mycode_list"><li>Qua môn học giúp sinh viên có nhận thức đúng đắn về quy luật của  cách mạng Việt Nam. Đó là con đường cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân  tiến lên cách mạng XHCN.<br />
</li>
<li>Học tập phương pháp và phong cách Hồ Chí Minh, rèn luyện kỹ năng gắn lý      luận với thực tiễn, học đi đôi với hành.<br />
</li>
</ul>
<br />
  <br />
  <a href="http://sinhviencnhh.net/diendan/link.php?url=http%3A%2F%2Fwww.mediafire.com%2F%3Fmeyutzyomnm%231" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b"><span style="font-size: 5pt;" class="mycode_size">Download</span> </span></a>nội dung giáo  trình.<br />
   <br />
  <span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">Chú ý:</span><br />
   <br />
  <span style="color: black;" class="mycode_color">Giáo trình điện tử của trường ĐHSP Hà nội là một  loại học liệu điện tử đã được đóng gói theo chuẩn SCORM 1.2. Để học được  nội dung của giáo trình này cần phải được chạy trên một hệ thống quản  lý học trực tuyến (LMS) hoặc là một phần mềm có thể thưc thi được các  gói học liệu theo chuẩn SCORM 1.2 – như Reload Player. </span><br />
   <br />
 <br />
 <br />
 <br />
 <br />
         ISBN:        <span style="font-style: italic;" class="mycode_i">Chưa xác định</span><br />
         Tài liệu tham khảo:<br />
  1. Hồ Chí Minh, Toàn tập, (12 tập), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996.<br />
  2. Hồ Chí Minh, Biên niên tiểu sử (10 tập), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002. <br />
  <a href="http://sinhviencnhh.net/diendan/link.php?url=http%3A%2F%2Febook.edu.net.vn%2Fimages%2Flinkext7.gif" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url"><img src="http://ebook.edu.net.vn/images/linkext7.gif" loading="lazy"  alt="[Image: linkext7.gif]" class="mycode_img img-responsive" /></a>  3. Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh (Hội đồng Trung ương chỉ đạo biên  soạn giáo trình quốc gia các bộ môn khoa học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ  Chí Minh), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003.<br />
  <a href="http://sinhviencnhh.net/diendan/link.php?url=http%3A%2F%2Febook.edu.net.vn%2Fimages%2Flinkext7.gif" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url"><img src="http://ebook.edu.net.vn/images/linkext7.gif" loading="lazy"  alt="[Image: linkext7.gif]" class="mycode_img img-responsive" /></a> 4. Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002.<br />
  <a href="http://sinhviencnhh.net/diendan/link.php?url=http%3A%2F%2Febook.edu.net.vn%2Fimages%2Flinkext7.gif" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url"><img src="http://ebook.edu.net.vn/images/linkext7.gif" loading="lazy"  alt="[Image: linkext7.gif]" class="mycode_img img-responsive" /></a> 5. Võ Nguyễn Giáp (CB). Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[Tiêu đề        Tư tưởng Hồ Chí Minh<br />
        <a href="http://sinhviencnhh.net/diendan/link.php?url=http%3A%2F%2Febook.edu.net.vn%2Fimages%2Fnode-p.gif" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url"><img src="http://ebook.edu.net.vn/images/node-p.gif" loading="lazy"  alt="[Image: node-p.gif]" class="mycode_img img-responsive" /></a> Tác giả:<br />
         PGS.TS Vũ Hồng Tiến<br />
        <a href="http://sinhviencnhh.net/diendan/link.php?url=http%3A%2F%2Febook.edu.net.vn%2Fimages%2Fnode-p.gif" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url"><img src="http://ebook.edu.net.vn/images/node-p.gif" loading="lazy"  alt="[Image: node-p.gif]" class="mycode_img img-responsive" /></a> Chuyên ngành:<br />
           / Khoa học xã hội<br />
        <a href="http://sinhviencnhh.net/diendan/link.php?url=http%3A%2F%2Febook.edu.net.vn%2Fimages%2Fnode-p.gif" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url"><img src="http://ebook.edu.net.vn/images/node-p.gif" loading="lazy"  alt="[Image: node-p.gif]" class="mycode_img img-responsive" /></a> Nguồn phát hành:<br />
         Khoa GDCT, ĐHSP Hà Nội<br />
        <a href="http://sinhviencnhh.net/diendan/link.php?url=http%3A%2F%2Febook.edu.net.vn%2Fimages%2Fnode-p.gif" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url"><img src="http://ebook.edu.net.vn/images/node-p.gif" loading="lazy"  alt="[Image: node-p.gif]" class="mycode_img img-responsive" /></a> Sơ lược:<br />
 <br />
 <span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">Thông tin giáo trình</span><br />
   <br />
  Học phần bao gồm 7 chương:<br />
   <a href="http://sinhviencnhh.net/diendan/link.php?url=http%3A%2F%2Febook.moet.gov.vn%2Fresources%2Fiportal%2Febook%2Fuploads%2FFile%2Fpics%2FttuongHCM.gif" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url"><img src="http://ebook.moet.gov.vn/resources/iportal/ebook/uploads/File/pics/ttuongHCM.gif" loading="lazy"  alt="[Image: ttuongHCM.gif]" class="mycode_img img-responsive" /></a> <br />
 <ul class="mycode_list"><li>Chương 1: Nguồn gốc, quá trình hình thành và phát triển, đối tượng, nhiệm vụ và ý nghĩa của việc học tập tư tưởng Hồ Chí Minh<br />
</li>
<li>Chương 2: Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và cách mạng giải phóng      dân tộc<br />
</li>
<li>Chương 3: Tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội và con đường quá độ      lên CNXH ở Việt Nam<br />
</li>
<li>Chương 4: Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc, kết hợp sức mạnh      dân tộc với sức mạnh thời đại<br />
</li>
<li>Chương 5: Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng Cộng sản Việt Nam và về nhà nước      của dân, do dân, vì dân<br />
</li>
<li>Chương 6: Tư tưởng đạo đức, nhân văn, văn hoá Hồ Chí Minh<br />
</li>
<li>Chương 7: Một số vấn đề vận dụng và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh      trong công cuộc đổi mới<br />
</li>
</ul>
<br />
  <br />
  <span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">Mục đích</span><br />
   <br />
 <ul class="mycode_list"><li>Cung cấp cho sinh viên những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí  Minh được bổ sung, làm phong phú những nguyên lý, quy luật, phạm trù  của chủ nghĩa Mác - Lênin từ đặc điểm đất nước ta. Nó làm cơ sở để Đảng  ta xác định đường lối, chiến lược, sách lược và phương pháp cách mạng  đúng đắn, sáng tạo trong mọi thời kỳ: giành, giữ và xây dựng đất nước  theo con đường XHCN.<br />
</li>
<li>Trên cơ sở đó nâng cao lòng tự hào về  truyền thống dân tộc Việt Nam, về Bác Hồ kính yêu, về Đảng Cộng sản Việt  Nam; giáo dục ý thức sống, chiến đấu, lao động và học tập theo gương  Bác Hồ vĩ đại. Học tập và rèn luyện theo mục tiêu đào tạo toàn diện, góp  phần xây dựng đất nước theo cương vị công tác được phân công sau khi ra  trường.<br />
</li>
</ul>
<br />
  <br />
  <span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">Yêu cầu</span><br />
 <br />
 Về kiến thức<br />
   <br />
 <ul class="mycode_list"><li>Làm rõ những khái niệm, phạm trù, quy luật của chủ nghĩa Mác -  Lênin được Hồ Chí Minh bổ sung, phát triển, khái quát từ tình hình thực  tế của Việt Nam.<br />
</li>
<li>Vị trí của tư tưởng Hồ Chí Minh được Đảng ta  quán triệt, vận dụng và xây dựng nên đường lối cách mạng đúng đắn, sáng  tạo trên mọi lĩnh vực, trong mỗi thời kỳ cách mạng nước ta, là sự thống  nhất biện chứng.<br />
</li>
<li>Cung cấp những kiến thức cơ bản về quá trình hình thành, phát triển và      những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh.<br />
</li>
</ul>
<br />
  <br />
  Về kỹ năng <br />
   <br />
 <ul class="mycode_list"><li>Qua môn học giúp sinh viên có nhận thức đúng đắn về quy luật của  cách mạng Việt Nam. Đó là con đường cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân  tiến lên cách mạng XHCN.<br />
</li>
<li>Học tập phương pháp và phong cách Hồ Chí Minh, rèn luyện kỹ năng gắn lý      luận với thực tiễn, học đi đôi với hành.<br />
</li>
</ul>
<br />
  <br />
  <a href="http://sinhviencnhh.net/diendan/link.php?url=http%3A%2F%2Fwww.mediafire.com%2F%3Fmeyutzyomnm%231" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b"><span style="font-size: 5pt;" class="mycode_size">Download</span> </span></a>nội dung giáo  trình.<br />
   <br />
  <span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">Chú ý:</span><br />
   <br />
  <span style="color: black;" class="mycode_color">Giáo trình điện tử của trường ĐHSP Hà nội là một  loại học liệu điện tử đã được đóng gói theo chuẩn SCORM 1.2. Để học được  nội dung của giáo trình này cần phải được chạy trên một hệ thống quản  lý học trực tuyến (LMS) hoặc là một phần mềm có thể thưc thi được các  gói học liệu theo chuẩn SCORM 1.2 – như Reload Player. </span><br />
   <br />
 <br />
 <br />
 <br />
 <br />
         ISBN:        <span style="font-style: italic;" class="mycode_i">Chưa xác định</span><br />
         Tài liệu tham khảo:<br />
  1. Hồ Chí Minh, Toàn tập, (12 tập), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996.<br />
  2. Hồ Chí Minh, Biên niên tiểu sử (10 tập), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002. <br />
  <a href="http://sinhviencnhh.net/diendan/link.php?url=http%3A%2F%2Febook.edu.net.vn%2Fimages%2Flinkext7.gif" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url"><img src="http://ebook.edu.net.vn/images/linkext7.gif" loading="lazy"  alt="[Image: linkext7.gif]" class="mycode_img img-responsive" /></a>  3. Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh (Hội đồng Trung ương chỉ đạo biên  soạn giáo trình quốc gia các bộ môn khoa học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ  Chí Minh), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003.<br />
  <a href="http://sinhviencnhh.net/diendan/link.php?url=http%3A%2F%2Febook.edu.net.vn%2Fimages%2Flinkext7.gif" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url"><img src="http://ebook.edu.net.vn/images/linkext7.gif" loading="lazy"  alt="[Image: linkext7.gif]" class="mycode_img img-responsive" /></a> 4. Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002.<br />
  <a href="http://sinhviencnhh.net/diendan/link.php?url=http%3A%2F%2Febook.edu.net.vn%2Fimages%2Flinkext7.gif" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url"><img src="http://ebook.edu.net.vn/images/linkext7.gif" loading="lazy"  alt="[Image: linkext7.gif]" class="mycode_img img-responsive" /></a> 5. Võ Nguyễn Giáp (CB). Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002.]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[Câu hỏi ôn tập và đáp án môn Tư tưởng Hồ Chí Minh]]></title>
			<link>https://dd.sinhvienhoahoc.net/thread-1000.html</link>
			<pubDate>Fri, 29 Jan 2010 11:16:39 +0700</pubDate>
			<dc:creator><![CDATA[<a href="https://dd.sinhvienhoahoc.net/member.php?action=profile&uid=2">08HH</a>]]></dc:creator>
			<guid isPermaLink="false">https://dd.sinhvienhoahoc.net/thread-1000.html</guid>
			<description><![CDATA[Link download câu hỏi và tài liệu ôn tập tại đây: <a href="http://www.mediafire.com/download.php?wojydlz2hdn" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">http://www.mediafire.com/download.php?wojydlz2hdn</a><br />
<br />
Download đáp án tại đây: <a href="http://www.mediafire.com/?9pmwnmzjtmn" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">http://www.mediafire.com/?9pmwnmzjtmn</a><br />
<br />
Chúc bạn ôn thi tốt và đạt kết quả cao!]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[Link download câu hỏi và tài liệu ôn tập tại đây: <a href="http://www.mediafire.com/download.php?wojydlz2hdn" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">http://www.mediafire.com/download.php?wojydlz2hdn</a><br />
<br />
Download đáp án tại đây: <a href="http://www.mediafire.com/?9pmwnmzjtmn" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">http://www.mediafire.com/?9pmwnmzjtmn</a><br />
<br />
Chúc bạn ôn thi tốt và đạt kết quả cao!]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[Tổng hợp tài liệu ôn tập thi cử môn Tư Tưởng Hồ Chí Minh]]></title>
			<link>https://dd.sinhvienhoahoc.net/thread-999.html</link>
			<pubDate>Fri, 29 Jan 2010 11:16:34 +0700</pubDate>
			<dc:creator><![CDATA[<a href="https://dd.sinhvienhoahoc.net/member.php?action=profile&uid=2">08HH</a>]]></dc:creator>
			<guid isPermaLink="false">https://dd.sinhvienhoahoc.net/thread-999.html</guid>
			<description><![CDATA[1. Về việc học:<br />
- Đi học đầy đủ, vì nếu nghỉ 3 buổi là được miễn thi lần 1. Trong giờ học ít nhất nên ghi đề mục + ý chính, cô giáo có thể kiểm tra vở và cấm thi những sinh viên không ghi chép đầy đủ. Không ngủ gật hay làm việc khác trong giờ, nếu bị cô bắt gặp nhiều khả năng cũng sẽ bị cấm thi.<br />
- Làm bài tiểu luận giữa kì thật cẩn thận.<br />
Vì điểm cuối kì = điểm tiểu luận x 0.2 + điểm thi x 0.8<br />
<br />
2. Về việc ôn thi:<br />
Với cấu trúc đề thi gồm 100 điểm (trong đó 64 điểm trắc nghiệm, 2 điểm điền từ vào câu nói nổi tiếng, 2 điểm học thuộc các ý chính của 1 nội dung nào đó, 2 điểm sắp xếp các nội dung theo thứ tự, 30 điểm tự luận) thì tớ mạnh dạn không học thuộc lòng phần điền từ vào các câu nói nổi tiếng.<br />
- Phần trắc nghiệm: thực ra phần này rất dễ, tớ ôn trong tập 200 câu hỏi trắc nghiệm (là phiên bản thu nhỏ của tập 500 câu hỏi trắc nghiệm tư tưởng Hồ Chí Minh - tài liệu này có trong kho của ITBK, mục Kì 5). Cứ tự trả lời từng câu một, rồi Google + so đáp án trong tập 500 câu.<br />
- Phần nêu các ý chính của một nội dung nào đó: cần nắm vững các đề mục trong SGK. Ôn tập phần này kĩ thì ôn tập phần tự luận sẽ dễ dàng hơn.<br />
- Phần tự luận: bỏ ra khoảng 2, 3 ngày học hết các nội dung của câu hỏi ôn tập là ok thôi.<br />
300 câu trắc nghiệm có đáp án môn tư tưởng Hồ Chí Minh ( file word ) :<br />
<br />
Download tại đây: <a href="http://www.4shared.com/file/76549110/f8739dd9/ueh-tthcm-co_dap_an_word.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">4shared.com - chia sẻ - tải xuống tài liệu ueh-tthcm-co dap an word.doc</a><br />
<br />
300 câu trắc nghiệm có đáp án môn tư tưởng Hồ Chí Minh ( file word .zar ) :<br />
Download tại đây:<a href="http://www.4shared.com/file/76549499/4fbd6d9e/ueh-tthcm-co_dap_an_wordzar.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">4shared.com - chia sẻ và lưu trữ - tải xuống tập tin trực tuyến ueh-tthcm-co dap an word.zar.rar</a><br />
<br />
300 câu trắc nghiệm có đáp án môn tư tưởng Hồ Chí Minh ( file .pdf ) :<br />
<br />
Download tại đây:<a href="http://www.4shared.com/file/75938434/8755983a/ueh-tthcm-co_dap_an.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">4shared.com - chia sẻ - tải xuống tài liệu ueh-tthcm-co dap an.pdf</a><br />
<br />
<br />
File câu hỏi môn tư tưởng Hồ Chí Minh :<br />
<br />
Download tại đây:<a href="http://www.4shared.com/file/74064389/1c11417d/7_Cau_hoi_thi.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">4shared.com - chia sẻ và lưu trữ - tải xuống tập tin trực tuyến 7 Cau hoi thi.rar</a><br />
<br />
<br />
<br />
File bài học môn tư tưởng Hồ Chí Minh :<br />
<br />
Download tại đây: <a href="http://www.4shared.com/file/74064514/b7effa3b/Tu_tuong_Ho_Chi_Minh.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">4shared.com - chia sẻ và lưu trữ - tải xuống tập tin trực tuyến Tu tuong Ho Chi Minh.rar</a><br />
<br />
<div style="text-align: right;" class="mycode_align"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">Nguồn Tổng Hợp</span><br />
</div>]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[1. Về việc học:<br />
- Đi học đầy đủ, vì nếu nghỉ 3 buổi là được miễn thi lần 1. Trong giờ học ít nhất nên ghi đề mục + ý chính, cô giáo có thể kiểm tra vở và cấm thi những sinh viên không ghi chép đầy đủ. Không ngủ gật hay làm việc khác trong giờ, nếu bị cô bắt gặp nhiều khả năng cũng sẽ bị cấm thi.<br />
- Làm bài tiểu luận giữa kì thật cẩn thận.<br />
Vì điểm cuối kì = điểm tiểu luận x 0.2 + điểm thi x 0.8<br />
<br />
2. Về việc ôn thi:<br />
Với cấu trúc đề thi gồm 100 điểm (trong đó 64 điểm trắc nghiệm, 2 điểm điền từ vào câu nói nổi tiếng, 2 điểm học thuộc các ý chính của 1 nội dung nào đó, 2 điểm sắp xếp các nội dung theo thứ tự, 30 điểm tự luận) thì tớ mạnh dạn không học thuộc lòng phần điền từ vào các câu nói nổi tiếng.<br />
- Phần trắc nghiệm: thực ra phần này rất dễ, tớ ôn trong tập 200 câu hỏi trắc nghiệm (là phiên bản thu nhỏ của tập 500 câu hỏi trắc nghiệm tư tưởng Hồ Chí Minh - tài liệu này có trong kho của ITBK, mục Kì 5). Cứ tự trả lời từng câu một, rồi Google + so đáp án trong tập 500 câu.<br />
- Phần nêu các ý chính của một nội dung nào đó: cần nắm vững các đề mục trong SGK. Ôn tập phần này kĩ thì ôn tập phần tự luận sẽ dễ dàng hơn.<br />
- Phần tự luận: bỏ ra khoảng 2, 3 ngày học hết các nội dung của câu hỏi ôn tập là ok thôi.<br />
300 câu trắc nghiệm có đáp án môn tư tưởng Hồ Chí Minh ( file word ) :<br />
<br />
Download tại đây: <a href="http://www.4shared.com/file/76549110/f8739dd9/ueh-tthcm-co_dap_an_word.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">4shared.com - chia sẻ - tải xuống tài liệu ueh-tthcm-co dap an word.doc</a><br />
<br />
300 câu trắc nghiệm có đáp án môn tư tưởng Hồ Chí Minh ( file word .zar ) :<br />
Download tại đây:<a href="http://www.4shared.com/file/76549499/4fbd6d9e/ueh-tthcm-co_dap_an_wordzar.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">4shared.com - chia sẻ và lưu trữ - tải xuống tập tin trực tuyến ueh-tthcm-co dap an word.zar.rar</a><br />
<br />
300 câu trắc nghiệm có đáp án môn tư tưởng Hồ Chí Minh ( file .pdf ) :<br />
<br />
Download tại đây:<a href="http://www.4shared.com/file/75938434/8755983a/ueh-tthcm-co_dap_an.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">4shared.com - chia sẻ - tải xuống tài liệu ueh-tthcm-co dap an.pdf</a><br />
<br />
<br />
File câu hỏi môn tư tưởng Hồ Chí Minh :<br />
<br />
Download tại đây:<a href="http://www.4shared.com/file/74064389/1c11417d/7_Cau_hoi_thi.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">4shared.com - chia sẻ và lưu trữ - tải xuống tập tin trực tuyến 7 Cau hoi thi.rar</a><br />
<br />
<br />
<br />
File bài học môn tư tưởng Hồ Chí Minh :<br />
<br />
Download tại đây: <a href="http://www.4shared.com/file/74064514/b7effa3b/Tu_tuong_Ho_Chi_Minh.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">4shared.com - chia sẻ và lưu trữ - tải xuống tập tin trực tuyến Tu tuong Ho Chi Minh.rar</a><br />
<br />
<div style="text-align: right;" class="mycode_align"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">Nguồn Tổng Hợp</span><br />
</div>]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[310 câu hỏi và đáp án trắc nghiệm môn Tư Tưởng Hồ Chí Minh]]></title>
			<link>https://dd.sinhvienhoahoc.net/thread-998.html</link>
			<pubDate>Fri, 29 Jan 2010 11:16:28 +0700</pubDate>
			<dc:creator><![CDATA[<a href="https://dd.sinhvienhoahoc.net/member.php?action=profile&uid=2">08HH</a>]]></dc:creator>
			<guid isPermaLink="false">https://dd.sinhvienhoahoc.net/thread-998.html</guid>
			<description><![CDATA[Mình có bộ đề thi trắc nghiệm kèm bài giải ngân hàng trắc nghiệm môn TT HCM gần 310 câu gửi lên diễn đàn chia sẻ cho mọi người nè.Tài liệu mình đính kèm dưới bài viết.<br /><!-- start: postbit_attachments_attachment -->
<div style="padding:4px 0px;"><span class="inline-block vmiddle"><!-- start: attachment_icon -->
<img src="https://dd.sinhvienhoahoc.net/images/attachtypes/pdf.png" title="Adobe Acrobat PDF" alt=".pdf" />
<!-- end: attachment_icon --></span>
<a  class="vmiddle inline-block" href="attachment.php?aid=95" target="_blank">310 cau hoi trac nghiem-tthcm_svcnhh.pdf</a> <span class="smalltext float_right">Kích thước: <span class="inline-block vmiddle">388.79 KB</span>&nbsp;&nbsp;Tải về: <span class="inline-block vmiddle">446</span></span>
</div>
<!-- end: postbit_attachments_attachment -->]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[Mình có bộ đề thi trắc nghiệm kèm bài giải ngân hàng trắc nghiệm môn TT HCM gần 310 câu gửi lên diễn đàn chia sẻ cho mọi người nè.Tài liệu mình đính kèm dưới bài viết.<br /><!-- start: postbit_attachments_attachment -->
<div style="padding:4px 0px;"><span class="inline-block vmiddle"><!-- start: attachment_icon -->
<img src="https://dd.sinhvienhoahoc.net/images/attachtypes/pdf.png" title="Adobe Acrobat PDF" alt=".pdf" />
<!-- end: attachment_icon --></span>
<a  class="vmiddle inline-block" href="attachment.php?aid=95" target="_blank">310 cau hoi trac nghiem-tthcm_svcnhh.pdf</a> <span class="smalltext float_right">Kích thước: <span class="inline-block vmiddle">388.79 KB</span>&nbsp;&nbsp;Tải về: <span class="inline-block vmiddle">446</span></span>
</div>
<!-- end: postbit_attachments_attachment -->]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[Tiểu Luận Tư Tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết]]></title>
			<link>https://dd.sinhvienhoahoc.net/thread-997.html</link>
			<pubDate>Fri, 29 Jan 2010 11:16:23 +0700</pubDate>
			<dc:creator><![CDATA[<a href="https://dd.sinhvienhoahoc.net/member.php?action=profile&uid=2">08HH</a>]]></dc:creator>
			<guid isPermaLink="false">https://dd.sinhvienhoahoc.net/thread-997.html</guid>
			<description><![CDATA[Tư Tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết<br />
Bài không tự viết mà chỉ là mình đi sưu tầm.<br />
Bạn download file đính kèm dưới bài viết nhé!<br />
Chúc bạn hoàn thành tốt bài tiểu luận!<br /><!-- start: postbit_attachments_attachment -->
<div style="padding:4px 0px;"><span class="inline-block vmiddle"><!-- start: attachment_icon -->
<img src="https://dd.sinhvienhoahoc.net/images/attachtypes/doc.png" title="Microsoft Word Document" alt=".doc" />
<!-- end: attachment_icon --></span>
<a  class="vmiddle inline-block" href="attachment.php?aid=94" target="_blank">TTHCM ve Dai Doan Ket_svcnhh.doc</a> <span class="smalltext float_right">Kích thước: <span class="inline-block vmiddle">132 KB</span>&nbsp;&nbsp;Tải về: <span class="inline-block vmiddle">143</span></span>
</div>
<!-- end: postbit_attachments_attachment -->]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[Tư Tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết<br />
Bài không tự viết mà chỉ là mình đi sưu tầm.<br />
Bạn download file đính kèm dưới bài viết nhé!<br />
Chúc bạn hoàn thành tốt bài tiểu luận!<br /><!-- start: postbit_attachments_attachment -->
<div style="padding:4px 0px;"><span class="inline-block vmiddle"><!-- start: attachment_icon -->
<img src="https://dd.sinhvienhoahoc.net/images/attachtypes/doc.png" title="Microsoft Word Document" alt=".doc" />
<!-- end: attachment_icon --></span>
<a  class="vmiddle inline-block" href="attachment.php?aid=94" target="_blank">TTHCM ve Dai Doan Ket_svcnhh.doc</a> <span class="smalltext float_right">Kích thước: <span class="inline-block vmiddle">132 KB</span>&nbsp;&nbsp;Tải về: <span class="inline-block vmiddle">143</span></span>
</div>
<!-- end: postbit_attachments_attachment -->]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[Tiểu Luận Tư tưởng Hồ Chí Mình về đạo đức cách mạng]]></title>
			<link>https://dd.sinhvienhoahoc.net/thread-996.html</link>
			<pubDate>Fri, 29 Jan 2010 11:16:14 +0700</pubDate>
			<dc:creator><![CDATA[<a href="https://dd.sinhvienhoahoc.net/member.php?action=profile&uid=2">08HH</a>]]></dc:creator>
			<guid isPermaLink="false">https://dd.sinhvienhoahoc.net/thread-996.html</guid>
			<description><![CDATA[Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của đạo đức cách mạng<br />
<br />
Mở đầu: <br />
<br />
Lý do chọn đề tài, mục đích nghiên cứu đề tài <br />
<br />
Trước lúc đi xa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại lời di huấn dặn dò về Đảng, và vấn đề đạo đức cách mạng: "Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, phải thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân". Cả cuộc đời của mình, Người đã tự thực hiện một cách hoàn chỉnh, trọn vẹn những tư tưởng và khát vọng đạo đức cách mạng; Người vừa là nhà lý luận đạo đức cách mạng, vừa là một tấm gương đạo đức trong sáng gần gũi và độc đáo nhất. <br />
<br />
Về đạo đức cách mạng, Hồ Chí Minh nói: "Đạo đức đó không phải là đạo đức thủ cựu. Nó là đạo đức mới. Đạo đức vĩ đại, nó không vì danh vọng của cá nhân, mà vì lợi ích chung của Đảng, của dân tộc, của loài người". Và theo cách diễn đạt bình dị của Người: Đạo đức như gốc của cây, ngọn nguồn của sông suối, sức mạnh của con người, sức có mạnh mới gánh được nặng, và đi được xa. Ngay trong những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Đảng ta tiến hành sự nghiệp vĩ đại giải phóng và thống nhất đất nước, Người đã khái quát và cảnh báo: "Một dân tộc, một Đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không còn trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân". Người cũng thường xuyên nhấn mạnh: "Đảng phải là đạo đức, là văn minh", cán bộ, đảng viên có đạo đức cách mạng phải vừa hồng vừa chuyên, hội tụ đủ đức tài, đức là gốc; phải có sự trung với nước, và hiếu với dân.<br />
<br />
Tư tưởng và tấm gương đạo đức cách mạng trong sáng của Hồ Chí Minh là tài sản tinh thần vô giá của Đảng và dân tộc ta. Nghiên cứu, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là niềm vinh dự, tự hào của mỗi cán bộ, công chức đối với Bác kính yêu - một con người mà tư tưởng và tầm vóc vĩ đại đã vượt qua mọi không gian và thời gian, trở thành một biểu tượng đẹp đẽ của văn minh nhân loại: Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hoá thế giới.<br />
<br />
Nội dung chính<br />
<br />
Lý thuyết<br />
Chương 01 : NGƯỜI CÁCH MẠNG PHẢI CÓ ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG LÀM NỀN TẢNG<br />
<br />
01: Chủ tịch Hồ Chí Minh người sáng lập ...<br />
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sáng lập, rèn luyện và lãnh đạo Đảng ta trên cơ sở vận dụng chủ nghĩa Mác-Lênin về xây dựng Đảng. Song, Hồ Chí Minh không chỉ quan tâm xây dựng Đảng về tư tưởng, chính trị và tổ chức, mà còn đề cập đến một phương diện khác, đó là xây dựng Đảng về đạo đức cách mạng. Bác Hồ đã mở rộng nội hàm về công tác xây dựng Đảng bao gồm chính trị, tư tưởng, tổ chức và về đạo đức, lối sống. Đây là đóng góp của Chủ tịch Hồ Chí Minh về mặt lý luận trong công tác xây dựng Đảng trên cơ sở chủ nghĩa Mác-Lênin.<br />
<br />
02: Tư cách một người kách mệnh.<br />
Qua nghiên cứu cho thấy từ rất sớm, Hồ Chí Minh quan niệm đạo đức cách mạng là gốc của người cách mạng. Trong tác phẩm “Đường kách mệnh”, Bác đã nêu "Tư cách một người cách mạng" ở mục đầu tiên. Bác đề cập đạo đức cách mạng trong 3 mối quan hệ: Tự mình, đối với người, đối với việc.<br />
<br />
Tư cách một người kách mệnh:<br />
+ Tự mình phải:<br />
Cần kiệm<br />
Hoà mà không tư<br />
Cả quyết sửa đổi mình<br />
Cẩn thận mà không nhút nhát<br />
Nhẫn nại (chịu khó)<br />
Hay nghiên cứu, xem xét<br />
Vị công, vô tư<br />
Không hiếu danh, không kiêu ngạo<br />
Nói thì phải làm<br />
Giữ chủ nghĩa cho vững<br />
Ít lòng tham muốn về vật chất<br />
Bí mật.<br />
<br />
+ Đối với người phải:<br />
Với từng người thì khoan thứ<br />
Với đoàn thể thì nghiêm<br />
Có lòng bày vẽ cho người<br />
Trực mà không táo bạo<br />
Hay xem xét người.<br />
<br />
+ Làm việc phải:<br />
Xem xét hoàn cảnh kỹ càng<br />
Quyết đoán<br />
Dũng cảm<br />
Phục tùng đoàn thể.<br />
<br />
Theo Bác, muốn làm cách mạng thắng lợi thì người cán bộ cách mạng phải có đạo đức. Vì sự nghiệp cách mạng rất to lớn và bao giờ cũng khó khăn, đòi hỏi sự kiên trì phấn đấu lâu dài của mỗi cá nhân và toàn Đảng. Vì vậy, nếu người cách mạng không có đạo đức thì khó có sức chịu đựng dẻo dai và không thể hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng.<br />
<br />
<br />
03: phẩm chất cơ bản của người cách mạng <br />
Bác từng nói: “Làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới là một sự nghiệp vẻ vang, nhưng nó cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh phức tạp, lâu dài và gian khổ. Sức có mạnh mới gánh được nặng, đi được xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”. “Mọi việc thành hay bại, chủ chốt là do cán bộ có thấm nhuần đạo đức cách mạng hay không”. “Có đạo đức cách mạng thì gặp khó khăn, gian khổ, thất bại cũng không sợ sệt, rụt rè lùi bước…”, “khi gặp thuận lợi và thành công nhưng vẫn giữ vững tinh thần gian khổ, chất phát, khiêm tốn”, “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”, “lo hoàn thành nhiệm vụ cho tốt chứ không kèn cựa về mặt hưởng thụ, không công thần, không quan liêu, không kiêu ngạo, không hủ hóa”.<br />
<br />
Bác Hồ thường nhắc nhở cán bộ, đảng viên rằng: “Đảng ta là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời đại biểu cho quyền lợi của dân tộc”. Bác yêu cầu người cách mạng phải thấy rõ điều đó và phải phấn đấu hết mình cho sự nghiệp cao cả và sứ mệnh lịch sử vẻ vang đó. Trong bài viết về đạo đức cách mạng năm 1958, Bác nêu rõ bản chất và nội dung của đạo đức cách mạng, đồng thời cũng nêu rõ những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân và đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân. Trong bài viết này, Bác nêu 5 phẩm chất đạo đức mà cán bộ, đảng viên phải phấn đấu rèn luyện, gìn giữ. Đó là:<br />
<br />
- Đạo đức cách mạng là tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân.<br />
- Là ra sức phấn đấu để thực hiện mục tiêu của Đảng.<br />
- Vô luận trong hoàn cảnh nào cũng phải quyết tâm chống mọi kẻ địch, luôn luôn cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu, quyết không chịu khuất phục, không chịu cúi đầu.<br />
- Vô luận trong hoàn cảnh nào, người đảng viên cũng phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết.<br />
- Đạo đức cách mạng là hoà mình với quần chúng thành một khối, tin quần chúng, hiểu quần chúng, lắng nghe ý kiến của quần chúng.<br />
<br />
Đó là phẩm chất cơ bản mà Bác Hồ đòi hỏi người cách mạng phải để làm nền tảng.<br />
<br />
chương 02: NHỮNG CHUẨN MỰC ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CỦA NGƯỜI ĐẢNG VIÊN CỘNG SẢN<br />
<br />
Đi sâu nghiên cứu di sản tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh, chúng ta thấy Bác có những lời dặn dò về những chuẩn mực đạo đức cụ thể cho từng đối tượng, từ cán bộ, đảng viên, nông dân, trí thức, công an, bộ đội, cho đến văn nghệ sĩ, nhà báo, thanh niên, thiếu niên. Ở đây, chúng ta đi sâu nghiên cứu những chuẩn mực của nền đạo đức cách mạng, mà Bác Hồ yêu cầu cán bộ, đảng viên phải xây dựng:<br />
<br />
01:TRUNG VỚI NƯỚC, HIẾU VỚI DÂN, QUYẾT TÂM PHẤN ĐẤU SUỐT ĐỜI HY SINH VÌ ĐỘC LẬP, TỰ DO CỦA TỔ QUỐC VÀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI<br />
<br />
Xét về mối quan hệ của đạo đức thì Bác Hồ đặt ưu tiên hàng đầu cho mối quan hệ giữa dân với nước, giữa nhân dân với tổ quốc. Đây là mối quan hệ chi phối tất cả các mối quan hệ khác. Chính vì vậy, Bác Hồ đặt phẩm chất trung với nước, hiếu với dân là phẩm chất hàng đầu của người đảng viên. Trung hiếu là khái niệm thuộc đạo đức truyền thống nhưng được Bác Hồ vận dụng theo quan điểm mới phù hợp với hoàn cảnh mới của lịch sử.<br />
Image<br />
Bác Hồ với thiếu nhi<br />
<br />
Theo quan điểm Bác Hồ, “trung với nước, hiếu với dân” có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau. Vì “dân là dân của nước, nước là nước của dân”. Nghĩa là nhân dân là chủ của đất nước. Còn theo quan điểm của đạo đức phong kiến, coi nước là của vua, vua là người quyết định tất cả, còn dân chỉ có nhiệm vụ làm tôi trung theo quan điểm “Quân xử thần tử thần bất tử bất trung” (Vua xử tôi phải chết thì tôi phải chết, không tuântheo lệnh vua là tôi không trung thành). Rõ ràng, quan điểm của Bác hoàn toàn khác hẳn với quan niệm của đạo đức phong kiến. Bác Hồ chỉ rõ: “Trung là trung với tổ quốc, hiếu là hiếu với nhân dân”. Và cũng chính Người là biểu tượng cao đẹp thể hiện phẩm chất này. Suốt cuộc đời vì dân, vì nước. Đến khi chuẩn bị vĩnh biệt thế giới này Bác cũng tính toán sao cho khỏi tốn kém thì giờ và tiền bạc của nhân dân đối với việc riêng của mình. Bác khẳng định: “Bất kỳ bao giờ, bất kỳ ở đâu, tôi cũng chỉ theo đuổi một mục đích là làm cho ích nước, lợi dân”.<br />
<br />
Còn “hiếu với dân” được Bác cụ thể hóa bằng chủ trương “Đảng và Chính phủ là đày tớ của nhân dân”, “chính quyền phải có trách nhiệm lo cho dân: Làm cho dân có ăn, làm cho dân có mặc, làm cho dân có chỗ ở, làm cho dân có học hành”. Bác còn chỉ rõ: “Chính sách của Đảng và Chính phủ phải hết sức chăm nom đến đời sống của nhân dân. Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt, Đảng và chính phủ có lỗi; nếu dân ốm là Đảng ta và Chính phủ có lỗi. Vì vậy, cán bộ Đảng và chính quyền từ trên xuống dưới, đều phải hết sức quan tâm đến đời sống của nhân dân”. Bác dạy rằng cán bộ các cấp đều là “công bộc của dân, nghĩa là gánh vác việc chung cho dân”. Và, “việc gì có lợi cho dân ta phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh”. Phẩm chất trung với nước, hiếu với dân được coi là hạt nhân cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh. <br />
02:YÊU THƯƠNG, QÚI TRỌNG CON NGƯỜI<br />
<br />
Qua nghiên cứu, chúng ta thấy rằng Hồ Chí Minh đã kế thừa và phát huy truyền thống nhân ái, nhân nghĩa của dân tộc kết hợp với chủ nghĩa nhân văn của nhân loại mà đỉnh cao là chủ nghĩa nhân văn cộng sản chủ nghĩa. Bác Hồ đã xác định phẩm chất yêu thương, quý trọng con người là một trong những phẩm chất, chuẩn mực đạo đức cách mạng cao đẹp nhất của người đảng viên.<br />
<br />
Lòng yêu thương con người của Bác Hồ trước hết là dành cho đại đa số nhân dân lao động, người nghèo khổ, bị áp bức, bóc lột trên hành tinh chúng ta. Tình yêu thương con người của Bác thật bao la. Tình yêu thương con người đối với đồng bào mình, Bác Hồ chỉ có một ham muốn duy nhất là: “Tôi chỉ có một ham muốn duy nhất, ham muốn tột bật là làm sao cho nước ta hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”. Đối với Bác Hồ, cả cuộc đời chỉ vì dân, vì nước không có gì lớn lao và quý báu hơn dân với nước. Thương yêu dân tộc mình, thương yêu con người. Bác từng nói: “Cả đời tôi chỉ có một mục đích là phấn đấu cho quyền lợi của tổ quốc và hạnh phúc của quốc dân. Những khi tôi phải ẩn nấp nơi núi non, hoặc ra vào chốn tù tội, xông pha sự hiểm nghèo, là vì mục đích đó”.<br />
<br />
Tấm lòng yêu thương con người của Bác Hồ còn được thể hiện rõ trong quan hệ đồng chí, đồng đội, anh em. Nhưng đối với bản thân mình Bác đòi hỏi phải nghiêm khắc, nhưng đối với bạn bè, đồng chí phải rộng rãi, đòi hỏi tất cả mọi người phải có sự tôn trọng con người, tôn trọng lẫn nhau. Đối với cán bộ, đảng viên, Bác dạy học chủ nghĩa Mác-Lênin là để thương yêu nhau hơn. Bác nói: “Học chủ nghĩa Mác-Lênin là để sống với nhau cho có nghĩa, có tình”. Đối với Bác chỉ có nâng con người lên, chứ không cho phép hạ thấp, vùi dập con người xuống, dù cho họ có khuyết điểm, thiếu sót. Vì vậy, phải thực hiện tự phê bình và phê bình nhằm nâng cao điểm tích cực, hạn chế những tiêu cực để mỗi người,ngày càng tốt hơn, có ích hơn cho Đảng, cho đất nước. Và, Bác khuyên mọi người trong tự phê bình phải thẳng thắn, chân thành để giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ. Bác dạy “Ở đời ai cũng có chỗ tốt, chỗ xấu. Ta phải khéo nâng cao chỗ tốt, khéo sửa chữa chỗ xấu cho họ”. Đối với Đảng, Bác đòi hỏi “Đảng phải thương yêu cán bộ, nhưng thương yêu không phải vỗ về, nuông chiều, thả mặc. Thương yêu là giúp cho họ học tập thêm, tiến bộ thêm”.<br />
<br />
Tình thương yêu con người, thương yêu nhân dân của Bác càng thể hiện rõ hơn trong Di chúc của Bác. Trong Di chúc, Bác căn dặn Đảng và Chính phủ thực hiện công việc đầu tiên trong hàn gắn vết thương sau chiến tranh là “Đầu tiên là công việc đối với con người”. Đầu tiên là đối với cán bộ, binh sỹ, dân quân, du kích, thanh niên xung phong; đối với các liệt sĩ; với cha, mẹ, vợ, con thương binh, liệt sĩ; với phụ nữ, nông dân…. cuối cùng là những nạn nhân của chế độ cũ…Bác không bỏ xót đối tượng nào cả, thể hiện một tấm lòng thương yêu đối với tất cả mọi người.<br />
<br />
03:CẦN KIỆM LIÊM CHÍNH<br />
<br />
Đức tính “cần, kiệm, liêm, chính” theo Hồ Chí Minh là nền tảng của đời sống mới, là phẩm chất hàng đầu của đạo đức cách mạng. Đây là những đức tính mà bản thân mỗi cán bộ, đảng viên lấy đó để điều chỉnh, soi rọi, thực hiện trong mọi hoạt động. Cần kiệm, liêm, chính - cũng là phẩm chất của đạo đức truyền thống, nhưng được Bác Hồ đưa vào những nội dung theo yêu cầu mới, khác cơ bản về đối tượng thực hiện. Trong chế độ phong kiến cũng nêu những khái niệm cần, kiệm, liêm, chính, nhưng họ bắt nhân dân thực hiện để phục vụ cho quyền lợi của họ, chứ giai cấp phong kiến không bao giờ thực hiện. Còn đối với Bác Hồ, đề ra cần, kiệm, liêm, chính là bắt buộc cán bộ, đảng viên phải làm gương thực hiện để nhân dân noi theo, đem lợi ích cho dân, cho nước.<br />
<br />
Tháng 3-1947, do nhu cầu “kháng chiến, kiến quốc” Bác kêu gọi thi đua xây dựng “đời sống mới là cần, kiệm, liêm, chính” và giải thích rất rõ, dễ hiểu. Tháng 6-1949, để tiếp tục răn dạy cán bộ về đạo đức, Bác viết tác phẩm “Cần, kiệm, liêm, chính”. Bác coi bốn đức tính “cần, kiệm, liêm, chính” là những đức tính của người cán bộ cách mạng, như trời có bốn mùa, đất có bốn phương. Bác viết:<br />
<br />
“Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông.<br />
Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc.<br />
Người có bốn đức: Cần, kiệm. liêm, chính.<br />
Thiếu một mùa thì không thành trời.<br />
Thiếu một phương thì không thành đất.<br />
Thiếu một đức thì không thành người".<br />
<br />
Sau đó, Bác còn viết bốn bài báo đăng trên báo Cứu quốc giải thích rõ nội hàm bốn đức tính này.<br />
<br />
Trước hết, nói về cần: “Cần - làm việc phải đến đúng giờ, chớ đến trễ về sớm. Làm cho chóng, cho chu đáo. Việc ngày nào nên làm xong ngày ấy, chớ để ngày mai. Phải nhớ rằng: Dân đã lấy tiền mồ hôi, nước mắt để trả lương cho ta trong những thì giờ đó. Ai lười biếng tức là lừa gạt dân.” Bác yêu cầu mọi người phải cần, cả nước phải cần, Bác viết:<br />
<br />
“Người siêng năng thì mau tiến bộ.<br />
Cả nhà siêng năng thì chắc ấm no.<br />
Cả làng siêng năng thì làng phồn thịnh.<br />
Cả nước siêng năng thì nước mạnh giàu.”<br />
<br />
Tóm lại, cần là luôn luôn cố gắng, luôn luôn chăm chỉ, cả năm, cả đời. Phải thấy rõ “lao động là nghĩa vụ thiêng liêng, là nguồn sống, nguồn hạnh phúc của mỗi chúng ta”. Nhưng không phải quá trớn, phải biết nuôi dưỡng tinh thần và sức lực để làm việc cho lâu dài. Bác cho rằng “lười biếng là kẻ địch của cần”, vì vậy, lười biếng cũng là kẻ địch của dân tộc.<br />
<br />
- Nói về Kiệm: Kiệm là tiết kiệm sức lao động, tiết kiệm thì giờ của dân, của nước, của bản thân mình; tiết kiệm từ cái to, tới cái nhỏ. Kiệm là không xa xỉ, không lãng phí, không bừa bãi.<br />
<br />
Cần, kiệm là phẩm chất của mọi người lao động trong đời sống trong công tác. Cần và kiệm phải đi đôi với nhau, như hai chân của con người.<br />
<br />
Cần mà không Kiệm, “thì làm chừng nào xào chừng ấy” cũng như cái thùng không có đáy, nước đổ vào chừng nào chảy ra hết chừng ấy, không lại hoàn không.<br />
<br />
Bác yêu cầu “phải lãnh đạo tổ chức, giáo dục nhân dân tăng gia sản xuất và tiết kiệm”. Vì “dân đủ ăn, đủ mặt thì những chính sách của Đảng và Chính phủ đưa ra sẽ đễ dàng thực hiện. Nếu dân đói, dốt, bệnh thì chính sách của ta dù có hay mấy cũng không thực hiện được”.<br />
<br />
Cho nên, Kiệm mà không Cần, thì không tăng thêm, không phát triển được. Mà vật gì không tiến tức là thoái.<br />
<br />
Nhưng tiết kiệm không phải là bủn xỉn, không phải “xem đồng tiền bằng cái nống” gặp việc đáng làm cũng không làm, đáng tiêu cũng không tiêu. Tiết kiệm không phải ép bộ đội, nhân dân nhịn ăn, nhịn mặc; nhưng khi không nên tiêu xài thì một đồng xu cũng không nên tiêu. Khi có việc đáng làm, việc ích lợi cho đồng bào, cho tổ quốc, thì bao nhiêu công, tốn bao nhiêu của, cũng vui lòng. Như thế mới là kiệm. Việc đáng tiêu mà không tiêu là bủn xỉn, chứ không phải là kiệm. Tiết kiệm phải kiên quyết không xa xỉ. Việc đáng làm trong một giờ mà kéo dài hai, ba giờ là xa xỉ. Cán bộ, đảng viên ăn sang, mặc đẹp trong lúc đồng bào còn nghèo, thiếu cơm, thiếu áo là xa xỉ. Vì vậy, xa xỉ là có tội với tổ quốc, với đồng bào.<br />
<br />
Nói về “liêm”, Bác viết: “Những người ở các công sở từ làng cho đến Chính phủ trung ương đều tìm dịp phát tài, hoặc xoay tiền của Chính phủ hoặc khoét đục của nhân dân. Đến khi lộ ra, bị phạt thì mất hết cả danh giá mà của phi nghĩa đó cũng không được hưởng. Vậy những người trong công sở phải lấy liêm làm đầu”.<br />
<br />
“Liêm là trong sạch, không tham lam”, “luôn tôn trọng, giữ gìn của công và của dân”, “không xâm phạm một đồng xu, hạt thóc của nhà nước, của nhân dân”, “không tham địa vị, không tham tiền tài, không tham tâng bốc mình”.<br />
<br />
Trong các bài viết khác, Bác viết: “Chữ liêm phải đi đôi với chữ kiệm, cũng như chữ kiệm phải đi đôi với chữ cần. Có liệm mới liêm được”. Và, Bác dẫn lời Khổng Tử nói: “Người mà không liêm, không bằng súc vật”. Cụ Mạnh Tử nói: “Ai cũng tham lợi thì nước sẽ nguy”.<br />
<br />
Nói về chính, Bác viết: “Một người phải cần, kiệm, nhưng còn phải chính mới là người hoàn toàn. Trên quả đất có hàng muôn triệu người sống, số người ấy có thể chia thành hai hạng: Người thiện và người ác. Trong xã hội, tuy có trăm công, nghìn việc, song, những công việc ấy có thể chia làm hai thứ: việc chính và việc tà.<br />
<br />
Làm việc chính, là người thiện.<br />
Làm việc tà, là người ác.<br />
Siêng năng (cần), tiết kiệm (kiệm), trong sạch (liêm), chính là thiện; còn lười biếng, xa xỉ, tham lam là ác, là tà.<br />
<br />
Bác còn dặn: “Mình là người làm việc cần phải có công tâm, công đức. Chớ đem của công dùng vào việc tư. Chớ đem người tư làm việc công. Việc gì cũng phải công minh, chính trực, không nên vì tư ân, tư huệ hay tư thù, tư oán. Mình có quyền dùng người thì phải dùng những người có tài năng, làm được việc. Chớ vì bà con, bầu bạn mà bố họ vào chức nọ, chức kia. Chớ vì sợ mất lòng mà dìm những kẻ có tài hơn mình. Phải trung thành với Chính phủ, với đồng bào. Chớ lên mặt làm quan cách mạng”.<br />
<br />
Chính còn có nghĩa là ngay thẳng, không tà, là đúng đắn, chính trực. Đối với mình không tự cao, tự đại; đối với người không nịnh trên, khinh dưới, không dối trá, lừa lọc, luôn giữ thái độ chân thành khiêm tốn, đoàn kết. Đối với việc thì để công lên trên lên trước việc tư. Được giao nhiệm vụ gì quyết làm cho kỳ được “việc thiện dù nhỏ mấy cũng làm, việc ác thì dù nhỏ mấy cũng phải tránh”. Theo Bác Hồ thì, cần, kiệm, liêm, chính là những đức tính không thể thiếu đối với cán bộ, đảng viên. Bởi vì “cán bộ các cơ quan, đoàn thể; cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ. Dù to hay nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp ăn của đút”. “Những người trong các công sở đều có nhiều hoặc ít quyền hành. Nếu không giữ được cần, kiệm, liêm, chính thì dễ trở nên tai hại, biến thành sâu mọt của dân”. Cần, kiệm, liêm, chính là thước đo văn minh, tiến bộ của một dân tộc. “Một dân tộc biết cần, kiệm, liêm là một dân tộc văn minh, tiến bộ”.<br />
<br />
Người cán bộ giữ được cần, kiệm, liêm, chính là người chí công, vô tư là chính tâm, thân dân - là người có ý thức phục vụ nhân dân, đặt lợi ích của nhân dân, của tổ quốc, của Đảng lên trên hết.  <br />
<br />
Chương 03: MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG VÀ CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN TRONG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH<br />
<br />
Chủ tịch Hồ Chí minh là lãnh tụ cách mạng quan tâm nhiều nhất đến vấn đề nâng cao đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân. Đặc biệt, từ khi Đảng cầm quyền, Bác càng quan tâm đến vấn đề này hơn. Trong di sản mà Bác để lại cho toàn Đảng, toàn dân, có nhiều tác phẩm, bài nói, bài viết chỉ bàn về đạo đức cách mạng và mặt đối lập với đạo đức cách mạng là chủ nghĩa cá nhân.<br />
<br />
Theo Bác Hồ, chủ nghĩa cá nhân hoàn toàn trái với đạo đức cách mạng. Định nghĩa về chủ nghĩa cá nhân, Bác Hồ viết: "Chủ nghĩa cá nhân là việc gì cũng lo cho lợi ích riêng của mình, không quan tâm đến lợi ích của tập thể, miễn mình béo, mặc thiên hạ gầy".<br />
<br />
Hay "chủ nghĩa cá nhân là một thứ rất gian giảo, xảo quyệt, nó khéo dỗ dành người ta đi xuống dốc. Nó là thứ vi trùng rất độc, đẻ ra hàng trăm thứ bệnh: Tham ô, hủ hoá, lãng phí, xa hoa, tham danh trục lợi, thích địa vị quyền hành, tự cao tự đại, coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, độc đoán, độc quyền, quan liêu, mệnh lệnh, lười biếng v.v…<br />
<br />
Vì vậy, để giữ vững đạo đức cách mạng, thì bất cứ trong điều kiện, hoàn cảnh nào cũng phải quyết tâm đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân. "Chủ nghĩa cá nhân là một trở ngại lớn cho việc xây dựng chủ nghĩa, cho nên, thắng lợi của chủ nghĩa xã hội không thể tách rời thắng lợi của cuộc đấu tranh từ bỏ chủ nghĩa cá nhân".<br />
<br />
Xét mối quan hệ này, chúng ta cần nhận thức thống nhất giữa lợi ích chung và lợi riêng. Cần phân biệt đúng đắn giữa chủ nghĩa cá nhân và lợi ích cá nhân. Như nói ở trên, theo Bác Hồ, chủ nghĩa cá nhân là việc gì cũng nghĩ đến lợi ích riêng của mình trước hết. Họ không lo "mình vì mọi người" mà chỉ muốn "mọi người vì mình". Cho nên, phải "quét sạch chủ nghĩa cá nhân". "Nhưng đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân không phải là gây xéo lên lợi ích cá nhân. Vì mỗi người đều có đời sống riêng. Mỗi người đều có quyền làm giàu cho bản thân và gia đình mình; nhưng những lợi ích đó không trái với lợi ích của tập thể, lợi ích của Đảng, của tổ quốc, dân tộc".<br />
<br />
Nếu để chủ nghĩa cá nhân phát triển thì sẽ ảnh hưởng xấu đến Đảng, dân tộc. Bác chỉ rõ: "Một dân tộc, một Đảng và một con người ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất thiết hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân".<br />
<br />
Cho nên, chủ nghĩa cá nhân là kẻ thù của đạo đức cách mạng, kẻ thù của chủ nghĩa xã hội. Người cách mạng, cán bộ, đảng viên phải "quét sạch" nó.<br />
<br />
Chương 04:  NGUYÊN TẮC XÂY DỰNG VÀ TU DƯỠNG ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG<br />
<br />
Đã tiếp thu, rèn luyện và tu dưỡng đạo đức cách mạng không phải ai cũng thực hiện được. Theo Bác Hồ, thì chỉ có những người có cái tâm trong sáng mới đủ bản lĩnh và năng lực lãnh hội được những chuẩn mực của đạo đức cách mạng. Và, khi đạo đức cách mạng đã vững rồi thì “giàu sang không quyến rũ, nghèo khó không chuyển lay, uy vũ không khuất phục”. Đây cũng là phẩm chất của người đảng viên cộng sản. Đức tính trên cũng được coi là khí phách của đấng trượng phu của thời phong kiến. Nhưng với người cán bộ cách mạngm, đạo đức cách mạng dù bất luận hoàn cảnh nào đều phải giữ mình; trước sự giàu sang không thể làm cho mình thèm muốn, sự nghèo khó cũng không thể làm cho mình lay chuyển, nao núng; uy quyền, võ lực, hay dù phải đứng trước cái chết cũng không thể làm cho mình khuất phục, đầu hàng.<br />
<br />
Chúng ta biết rằng, học trên sách vở thì rất dễ, nhưng việc lãnh hội, rèn luyện và thực hành là cực kỳ khó. Cho nên, muốn có được đạo đức cách mạng, mỗi cán bộ, đảng viên cần thực hiện tốt các nguyên tắc sau:<br />
<br />
01: Nói đi đôi với làm, nêu gương tốt, làm việc tốt.<br />
<br />
Nói đi đôi với làm, nêu gương tốt làm việc tốt. Đây không chỉ là nguyên tắc rèn luyện mà còn là sự phân biệt giữa đạo đức cách mạng và phi đạo đức cách mạng. Chúng ta biết, nói mà không làm là đặc tính của giai cấp bóc lột, cho nên, lời nói phải đi đôi với việc làm và phải thực hiện việc làm gương - đó là đạo đức của người cách mạng. Bác từng nói: "Một tấm gương sống còn có giá trị hơn 100 bài diễn văn tuyên truyền", "trước mắt quần chúng, không phải cứ viết lên trán hai chữ cộng sản mà ta được họ yêu quý. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách đạo đức". Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước. Hô hào dân tiết kiệm, mình phải tiết kiệm trước đã..” Cho nên, đảng viên phải làm gương mọi mặt cho quần chúng noi theo. Thực hiện đúng lời dạy của Bác “Đảng viên đi trước, làng nước theo sau”. Việc làm gương phải thực hiện ở mọi nơi, mọi việc, phải quán triệt trong toàn Đảng và toàn hệ thống chính trị, từ cán bộ cấp Trung ương đến tận cơ sở.<br />
<br />
Bác Hồ kính yêu là tấm gương nói đi đôi với làm. Cho nên, ở Người có sức thuyết phục lớn, có một sức hút mãnh liệt làm cho cả dân tộc, các giai tầng xã hội, các thế hệ người Việt Nam đều tin tưởng, kính phục, yêu quý và đi theo lời kêu gọi của Người. Các vị lãnh tụ cộng sản và nhân dân yêu chuộng hoà bình trên thế giới cũng kính yêu Người.<br />
<br />
02: Xây đi đôi với chống.<br />
Nghĩa là đồng thời với việc giáo dục, xây dựng, rèn luyện đạo đức cách mạng phải đi đôi với đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, chống những hành vi phi đạo đức.<br />
<br />
Việc xây dựng đạo đức cách mạng không phải dễ dàng, bởi ai lại không thích quyền lực, ai thấy vàng, tiền bạc, nhà cao cửa rộng lại không ham, cho nên đấu tranh để thắng những ham muốn của bản thân mình là một cuộc đấu tranh gay go và phức tạp. Nhưng nếu chúng ta kiên quyết thì sẽ thành công. Hơn nữa, trong Đảng, trong mỗi con người vì những lý do khác nhau, nên không phải mọi người đều tốt. Bác Hồ chỉ rõ những kẻ địch cần chống trước hết là chống thói quen và truyền thống lạc hậu; và đặc bịêt là chống chủ nghĩa cá nhân đang ẩn chứa trong mỗi con người, khi có điều kiện tác động nó sẽ phát triển. Cho nên, Bác yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên "trước hết phải đánh thắng lòng tà là kẻ thù trong mình". Và phải phê phán đấu tranh loại bỏ hàng trăm thứ bệnh do chủ nghĩa cá nhân gây ra vì nó là vật cản nguy hiểm cho việc xây dựng đạo đức cách mạng. Cho nên, chúng ta chống là nhằm để xây dựng, đi liền với xây và lấy xây làm chính, lấy gương tốt để giáo dục và xây dựng đạo đức cách mạng cho mỗi người và đạo đức trong Đảng.<br />
<br />
03: Tu dưỡng bền bỉ suốt đời.<br />
Bác đã chỉ rõ: "Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do quá trình đấu tranh rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong".<br />
<br />
Việc tu dưỡng đạo đức cách mạng phải trên tinh thần tự giác, tự nguyện, dựa vào lương tâm của mỗi người và sự đóng góp xây dựng của tập thể của quần chúng. Người khẳng định, đã là người thì ai cũng có chỗ hay, chỗ dở, chỗ xấu, chỗ tốt, ai cũng có thiện, có ác ở trong mình. Nhưng tốt, xấu, hiền, dữ, thiện, ác đều lệ thuộc vào sự giáo dục và rèn luyện mà nên. Cho nên, vấn đề là chúng ta phải biết và dám dũng cảm nhìn thẳng vào sự thật bản thân con người mình và dựa vào tập thể để thấy cái tốt, cái hay để phát huy, cái xấu, cái ác để khắc phục. Đã là con người thì khó tránh khỏi vấp phải khuyết điểm, sai lầm. Vấn đề là phải dũng cảm nhìn nhận sai lầm, khuyết điểm để sửa chữa, khắc phục. Và, việc tu dưỡng đạo đức cách mạng phải gắn liền với thực tiễn hoạt động cách mạng, phải bền bỉ, ở mọi lúc, mọi nơi, mọi hoàn cảnh. Bác đã viết “tư tưởng cộng sản với tư tưởng cá nhân ví như lúa với cỏ dại. Lúa phải chăm bón rất khó nhọc thì mới tốt được. Còn cỏ dại không cần chăm sóc cũng mọc lên lu bù. Tư tưởng cộng sản phải rèn luyện mới có được. Còn tư tưởng cá nhân thì cũng như cỏ dại, sinh sôi, nảy nở rất dễ. Vì vậy gột rửa chủ nghĩa cá nhân ví như rửa mặt thì phải rửa hàng ngày".<br />
<br />
Cho nên, xây dựng, rèn luyện tu dưỡng đạo đức cách mạng và chống chủ nghĩa cá nhân là phải được tiến hành đồng thời, thường xuyên, bền bỉ, suốt đời trong quá trình hoạt động cách mạng.<br />
<br />
Trên đây là 3 nguyên tắc cơ bản rèn luyện đạo đức của cá nhân để trở thành người có đạo đức cách mạng. Mỗi cán bộ, đảng viên nếu thực tâm làm theo lời Bác thì sẽ hoàn toàn thực hiện được. Vì những điều Bác dạy, không phải chỉ có vĩ nhân hay lãnh tụ mới thực hiện được, mà mọi người đều thực hiện được vì đó là những điều rất bình dị trong cuộc sống của mỗi người.<br />
<br />
<br />
Vận dụng<br />
Tư tưởng về đạo đức có thể nói đó là hợp điểm tư tưởng về con người và tư tưởng về văn hoá của Hồ Chí Minh.<br />
<br />
Với con người, Hồ Chí Minh coi đạo đức là gốc, là cái quan trọng nhất quyết định tính cách, tức là nhân cách. Đức phải gắn với tài và tài phải có đức đảm bảo. Theo Người, có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó, còn có tài mà không có đức sẽ không làm được điều ích lợi cho đời , thậm chí còn có hại, sinh ra những thói xấu như kiêu căng, tự mãn, ích kỷ rồi thành hư hỏng, có khi phạm tội. Bởi thế, Người đòi hỏi có đức phải có tài và có tài phải có đức.<br />
<br />
Văn hóa có cốt lõi của nó là ở đạo đức. Thiện- Ác, Tốt- Xấu, hay- dở đều có ở con người và phần nhiều là kết quả của giáo dục. Tuỳ thuộc ở môi trường, hoàn cảnh và giáo dục như thế nào mà con người có thể tốt hay xấu. Do đó, giáo dục trước hết và chủ yếu là giáo dục đạo đức, sửa chữa, cải tạo cái xấu, vun trồng, tập luyện cái tốt. Người xác định học để làm việc, làm người, học để phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân, phục vụ giai cấp - dân tộc - nhân loại . Người đặc biệt chú trọng tới các đức tính mà giáo dục các đức tính thì phải chăm lo từ bé, có sự chỉ dẫn tỷ mỷ, chu đáo, nêu gương của các thầy giáo, cô giáo. Giáo dục nhà trường là trung tâm để hình thành nhân cách. Song phải có hỗ trợ lẫn nhau giữa giáo dục gia đình - nhà trường và xã hội. Những chỉ dẫn của Hồ Chí Minh về đạo đức và giáo dục thực hành đạo đức đều mang ý nghĩa Văn hoá đạo đức, thấm vào nhận thức, tình cảm, vào hành vi, lối sống, sự ứng xử của con người, giữa người với người trong xã hội.<br />
<br />
 Vận dụng phương châm xử thế của người xưa, Người nói rõ đạo đức công dân, trách nhiệm công dân và thái độ ứng xử đối với dân, gắn liền trách nhiệm và lợi ích, quyền và nghĩa vụ. Với Hồ Chí Minh, chính trị là đoàn kết và thanh khiết, từ việc nhỏ tới việc lớn. Theo Hồ Chí Minh, phải xây dựng Đảng chân chính cách mạng, làm cho Đảng trở thành Đảng của đạo đức và văn minh. Đạo đức cách mạng trong Đảng, trong cán bộ, đảng viên, nhất là ở những người lãnh đạo, cầm quyền là hạt nhân của đạo đức cách mạng - một nền đạo đức mới tiêu biểu cho xã hội mới.<br />
<br />
Điều quan trọng và thiết thực là ở chỗ, Người chỉ rõ: phải thực hành đạo đức cách mạng trong công việc, trong tổ chức, trong phong trào thi đua yêu nước, trong lối sống và hành vi của cán bộ công chức đặc biệt là những người lãnh đạo có chức có quyền. Chú trọng bồi dưỡng tình cảm cách mạng, đem những nội dung mới, tinh thần đổi mới và quyết tâm đổi mới để xây dựng đạo đức cách mạng. Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng mới làm nên sự nghiệp. Cán bộ phải tích cực gần gũi mật thiết với quần chúng như máu với thịt, như cá với nước.<br />
<br />
Người căn dặn cán bộ đảng viên, dù bất cứ ở cương vị gì, giữ trọng trách gì cũng phải luôn sâu sát dân và hướng tới dân, vì dân. Phải tận trung với nước, tận hiếu với dân, làm đầy tớ và công bộc của dân, do đó phải dân chủ, không rơi vào ''quan chủ'', là đầy tớ chứ không phải lên mặt quan cách mạng''. Làm điều lợi cho dân, tránh điều hại cho dân dù chỉ là một cái hại nhỏ. Không đảm bảo công bằng làm cho lòng dân không yên thì đó là điều nguy hại cho chế độ.<br />
Đạo đức cách mạng ở trong Đảng đòi hỏi phải nêu cao tính tiên phong gương mẫu, đấu tranh phê bình và tự phê bình, có lý có tình, thấu tình đạt lý, ăn ở với nhau có tình có nghĩa, phải có tình thương yêu đồng chí, giữ gìn sự sự đoàn kết trong Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình. Công chức nhà nước phải tận tâm tận lực với công việc, chấp hành luật pháp, tôn trọng kỷ luật công vụ, thi hành đạo đức công chức.<br />
<br />
Ai nấy đều biết 6 điều Người dạy Công an nhân dân, trong đó có những lời thấm thía: với chính phủ phải tuyệt đối trung thành, với dân phải kính trọng lễ phép. Đây là những lời dạy chung cho tất cả mọi người, thấm nhuần đạo đức và văn hoá đạo đức mà nổi bật là Văn hóa trọng dân và trọng pháp.<br />
<br />
- 5 điều Bác Hồ dạy thiếu niên nhi đồng với những nội dung: yêu Tổ quốc, yêu đồng bào, yêu lao động, khiêm tốn, thật thà, dũng cảm là những bài học chuẩn bị cho thế hệ trẻ vào đời làm công dân tốt của nhà nước, làm chiến sĩ trung thành của chế độ.<br />
<br />
Đạo đức cách mạng còn đòi hỏi tẩy trừ những thói xấu: tệ lãng phí, quan liêu, tham ô, tham nhũng, lãng phí là không thương dân, mỗi đồng tiền bát gạo mà chúng ta tiêu dùng đều từ mồ hôi nước mắt của dân, thương dân thì phải tiết kiệm. Tham ô là ăn cắp của công, ăn cắp của dân, là có tội với dân, là tội ác và kẻ thù của chế độ mới. Thực hành đạo đức cách mạng thì phải ra sức đấu tranh chống quan liêu tham nhũng, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân. Đó là một cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ chống lại những thói hư tật xấu trong con người mình, cuộc đấu tranh đó âm thầm và quyết liệt, có không ít sự đau đớn ở trong lòng.  <br />
<br />
- Đạo đức cách mạng đối với tuổi trẻ, với thanh niên càng trở nên quan trọng để nuôi dưỡng hoài bão, chí khí lớn, nghị lực đấu tranh cho chân lý, đạo lý, tình thương, lẽ phải. Trung thực - Khiêm tốn - Đoàn kết - Vị tha- Nhân ái - Khoan dung, đó là những đức tính và giá trị đạo đực mà Người ra sức thực hiện ở mỗi con người. Lại có một điều thấm thía khác. Người căn dặn thanh niên: tuổi trẻ phải có chí tiến thủ, hoài bão lo việc lớn, vì nước vì dân trẻ phải biết tránh xa danh vọng, quyền lực vì những cái đó dễ làm hư hỏng con người.<br />
<br />
Người không chỉ nêu lên những nội dung phong phú của đạo đức cách mạng mà còn gợi mở bao điều quý giá khác về giáo dục, thực hiện đạo đức cách mạng. Theo Người, phương pháp phải thích hợp, mềm dẻo, linh hoạt, đã đúng lại còn phải khéo nữa thì mới có sức thuyết phục lòng người .<br />
<br />
Người đã nâng phương pháp giáo dục và thực hành đạo đức cách mạng lên tầm phương pháp tư tưởng, lên trình độ khoa học và nghệ thuật, có sức lôi cuốn, thuyết phục mạnh mẽ lòng người ở mọi đối tượng, tầng lớp, thế hệ.<br />
<br />
Như đã nói ở trên, sức thuyết phục mạnh mẽ của đạo đức Hồ Chí Minh không chỉ ở trí tuệ, tư tưởng mà còn là ở sự khéo léo, tinh tế nhất là ở tấm gương trong sáng, mẫu mực về đạo đức của Người trong đời sống đạo đức hàng ngày.<br />
<br />
Người đã thực hiện nhất quán giữa tư tưởng đạo đức và hành động đạo đức. Suốt một đời tận tụy vì]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của đạo đức cách mạng<br />
<br />
Mở đầu: <br />
<br />
Lý do chọn đề tài, mục đích nghiên cứu đề tài <br />
<br />
Trước lúc đi xa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại lời di huấn dặn dò về Đảng, và vấn đề đạo đức cách mạng: "Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, phải thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân". Cả cuộc đời của mình, Người đã tự thực hiện một cách hoàn chỉnh, trọn vẹn những tư tưởng và khát vọng đạo đức cách mạng; Người vừa là nhà lý luận đạo đức cách mạng, vừa là một tấm gương đạo đức trong sáng gần gũi và độc đáo nhất. <br />
<br />
Về đạo đức cách mạng, Hồ Chí Minh nói: "Đạo đức đó không phải là đạo đức thủ cựu. Nó là đạo đức mới. Đạo đức vĩ đại, nó không vì danh vọng của cá nhân, mà vì lợi ích chung của Đảng, của dân tộc, của loài người". Và theo cách diễn đạt bình dị của Người: Đạo đức như gốc của cây, ngọn nguồn của sông suối, sức mạnh của con người, sức có mạnh mới gánh được nặng, và đi được xa. Ngay trong những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Đảng ta tiến hành sự nghiệp vĩ đại giải phóng và thống nhất đất nước, Người đã khái quát và cảnh báo: "Một dân tộc, một Đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không còn trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân". Người cũng thường xuyên nhấn mạnh: "Đảng phải là đạo đức, là văn minh", cán bộ, đảng viên có đạo đức cách mạng phải vừa hồng vừa chuyên, hội tụ đủ đức tài, đức là gốc; phải có sự trung với nước, và hiếu với dân.<br />
<br />
Tư tưởng và tấm gương đạo đức cách mạng trong sáng của Hồ Chí Minh là tài sản tinh thần vô giá của Đảng và dân tộc ta. Nghiên cứu, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là niềm vinh dự, tự hào của mỗi cán bộ, công chức đối với Bác kính yêu - một con người mà tư tưởng và tầm vóc vĩ đại đã vượt qua mọi không gian và thời gian, trở thành một biểu tượng đẹp đẽ của văn minh nhân loại: Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hoá thế giới.<br />
<br />
Nội dung chính<br />
<br />
Lý thuyết<br />
Chương 01 : NGƯỜI CÁCH MẠNG PHẢI CÓ ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG LÀM NỀN TẢNG<br />
<br />
01: Chủ tịch Hồ Chí Minh người sáng lập ...<br />
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sáng lập, rèn luyện và lãnh đạo Đảng ta trên cơ sở vận dụng chủ nghĩa Mác-Lênin về xây dựng Đảng. Song, Hồ Chí Minh không chỉ quan tâm xây dựng Đảng về tư tưởng, chính trị và tổ chức, mà còn đề cập đến một phương diện khác, đó là xây dựng Đảng về đạo đức cách mạng. Bác Hồ đã mở rộng nội hàm về công tác xây dựng Đảng bao gồm chính trị, tư tưởng, tổ chức và về đạo đức, lối sống. Đây là đóng góp của Chủ tịch Hồ Chí Minh về mặt lý luận trong công tác xây dựng Đảng trên cơ sở chủ nghĩa Mác-Lênin.<br />
<br />
02: Tư cách một người kách mệnh.<br />
Qua nghiên cứu cho thấy từ rất sớm, Hồ Chí Minh quan niệm đạo đức cách mạng là gốc của người cách mạng. Trong tác phẩm “Đường kách mệnh”, Bác đã nêu "Tư cách một người cách mạng" ở mục đầu tiên. Bác đề cập đạo đức cách mạng trong 3 mối quan hệ: Tự mình, đối với người, đối với việc.<br />
<br />
Tư cách một người kách mệnh:<br />
+ Tự mình phải:<br />
Cần kiệm<br />
Hoà mà không tư<br />
Cả quyết sửa đổi mình<br />
Cẩn thận mà không nhút nhát<br />
Nhẫn nại (chịu khó)<br />
Hay nghiên cứu, xem xét<br />
Vị công, vô tư<br />
Không hiếu danh, không kiêu ngạo<br />
Nói thì phải làm<br />
Giữ chủ nghĩa cho vững<br />
Ít lòng tham muốn về vật chất<br />
Bí mật.<br />
<br />
+ Đối với người phải:<br />
Với từng người thì khoan thứ<br />
Với đoàn thể thì nghiêm<br />
Có lòng bày vẽ cho người<br />
Trực mà không táo bạo<br />
Hay xem xét người.<br />
<br />
+ Làm việc phải:<br />
Xem xét hoàn cảnh kỹ càng<br />
Quyết đoán<br />
Dũng cảm<br />
Phục tùng đoàn thể.<br />
<br />
Theo Bác, muốn làm cách mạng thắng lợi thì người cán bộ cách mạng phải có đạo đức. Vì sự nghiệp cách mạng rất to lớn và bao giờ cũng khó khăn, đòi hỏi sự kiên trì phấn đấu lâu dài của mỗi cá nhân và toàn Đảng. Vì vậy, nếu người cách mạng không có đạo đức thì khó có sức chịu đựng dẻo dai và không thể hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng.<br />
<br />
<br />
03: phẩm chất cơ bản của người cách mạng <br />
Bác từng nói: “Làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới là một sự nghiệp vẻ vang, nhưng nó cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh phức tạp, lâu dài và gian khổ. Sức có mạnh mới gánh được nặng, đi được xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”. “Mọi việc thành hay bại, chủ chốt là do cán bộ có thấm nhuần đạo đức cách mạng hay không”. “Có đạo đức cách mạng thì gặp khó khăn, gian khổ, thất bại cũng không sợ sệt, rụt rè lùi bước…”, “khi gặp thuận lợi và thành công nhưng vẫn giữ vững tinh thần gian khổ, chất phát, khiêm tốn”, “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”, “lo hoàn thành nhiệm vụ cho tốt chứ không kèn cựa về mặt hưởng thụ, không công thần, không quan liêu, không kiêu ngạo, không hủ hóa”.<br />
<br />
Bác Hồ thường nhắc nhở cán bộ, đảng viên rằng: “Đảng ta là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời đại biểu cho quyền lợi của dân tộc”. Bác yêu cầu người cách mạng phải thấy rõ điều đó và phải phấn đấu hết mình cho sự nghiệp cao cả và sứ mệnh lịch sử vẻ vang đó. Trong bài viết về đạo đức cách mạng năm 1958, Bác nêu rõ bản chất và nội dung của đạo đức cách mạng, đồng thời cũng nêu rõ những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân và đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân. Trong bài viết này, Bác nêu 5 phẩm chất đạo đức mà cán bộ, đảng viên phải phấn đấu rèn luyện, gìn giữ. Đó là:<br />
<br />
- Đạo đức cách mạng là tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân.<br />
- Là ra sức phấn đấu để thực hiện mục tiêu của Đảng.<br />
- Vô luận trong hoàn cảnh nào cũng phải quyết tâm chống mọi kẻ địch, luôn luôn cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu, quyết không chịu khuất phục, không chịu cúi đầu.<br />
- Vô luận trong hoàn cảnh nào, người đảng viên cũng phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết.<br />
- Đạo đức cách mạng là hoà mình với quần chúng thành một khối, tin quần chúng, hiểu quần chúng, lắng nghe ý kiến của quần chúng.<br />
<br />
Đó là phẩm chất cơ bản mà Bác Hồ đòi hỏi người cách mạng phải để làm nền tảng.<br />
<br />
chương 02: NHỮNG CHUẨN MỰC ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CỦA NGƯỜI ĐẢNG VIÊN CỘNG SẢN<br />
<br />
Đi sâu nghiên cứu di sản tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh, chúng ta thấy Bác có những lời dặn dò về những chuẩn mực đạo đức cụ thể cho từng đối tượng, từ cán bộ, đảng viên, nông dân, trí thức, công an, bộ đội, cho đến văn nghệ sĩ, nhà báo, thanh niên, thiếu niên. Ở đây, chúng ta đi sâu nghiên cứu những chuẩn mực của nền đạo đức cách mạng, mà Bác Hồ yêu cầu cán bộ, đảng viên phải xây dựng:<br />
<br />
01:TRUNG VỚI NƯỚC, HIẾU VỚI DÂN, QUYẾT TÂM PHẤN ĐẤU SUỐT ĐỜI HY SINH VÌ ĐỘC LẬP, TỰ DO CỦA TỔ QUỐC VÀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI<br />
<br />
Xét về mối quan hệ của đạo đức thì Bác Hồ đặt ưu tiên hàng đầu cho mối quan hệ giữa dân với nước, giữa nhân dân với tổ quốc. Đây là mối quan hệ chi phối tất cả các mối quan hệ khác. Chính vì vậy, Bác Hồ đặt phẩm chất trung với nước, hiếu với dân là phẩm chất hàng đầu của người đảng viên. Trung hiếu là khái niệm thuộc đạo đức truyền thống nhưng được Bác Hồ vận dụng theo quan điểm mới phù hợp với hoàn cảnh mới của lịch sử.<br />
Image<br />
Bác Hồ với thiếu nhi<br />
<br />
Theo quan điểm Bác Hồ, “trung với nước, hiếu với dân” có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau. Vì “dân là dân của nước, nước là nước của dân”. Nghĩa là nhân dân là chủ của đất nước. Còn theo quan điểm của đạo đức phong kiến, coi nước là của vua, vua là người quyết định tất cả, còn dân chỉ có nhiệm vụ làm tôi trung theo quan điểm “Quân xử thần tử thần bất tử bất trung” (Vua xử tôi phải chết thì tôi phải chết, không tuântheo lệnh vua là tôi không trung thành). Rõ ràng, quan điểm của Bác hoàn toàn khác hẳn với quan niệm của đạo đức phong kiến. Bác Hồ chỉ rõ: “Trung là trung với tổ quốc, hiếu là hiếu với nhân dân”. Và cũng chính Người là biểu tượng cao đẹp thể hiện phẩm chất này. Suốt cuộc đời vì dân, vì nước. Đến khi chuẩn bị vĩnh biệt thế giới này Bác cũng tính toán sao cho khỏi tốn kém thì giờ và tiền bạc của nhân dân đối với việc riêng của mình. Bác khẳng định: “Bất kỳ bao giờ, bất kỳ ở đâu, tôi cũng chỉ theo đuổi một mục đích là làm cho ích nước, lợi dân”.<br />
<br />
Còn “hiếu với dân” được Bác cụ thể hóa bằng chủ trương “Đảng và Chính phủ là đày tớ của nhân dân”, “chính quyền phải có trách nhiệm lo cho dân: Làm cho dân có ăn, làm cho dân có mặc, làm cho dân có chỗ ở, làm cho dân có học hành”. Bác còn chỉ rõ: “Chính sách của Đảng và Chính phủ phải hết sức chăm nom đến đời sống của nhân dân. Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt, Đảng và chính phủ có lỗi; nếu dân ốm là Đảng ta và Chính phủ có lỗi. Vì vậy, cán bộ Đảng và chính quyền từ trên xuống dưới, đều phải hết sức quan tâm đến đời sống của nhân dân”. Bác dạy rằng cán bộ các cấp đều là “công bộc của dân, nghĩa là gánh vác việc chung cho dân”. Và, “việc gì có lợi cho dân ta phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh”. Phẩm chất trung với nước, hiếu với dân được coi là hạt nhân cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh. <br />
02:YÊU THƯƠNG, QÚI TRỌNG CON NGƯỜI<br />
<br />
Qua nghiên cứu, chúng ta thấy rằng Hồ Chí Minh đã kế thừa và phát huy truyền thống nhân ái, nhân nghĩa của dân tộc kết hợp với chủ nghĩa nhân văn của nhân loại mà đỉnh cao là chủ nghĩa nhân văn cộng sản chủ nghĩa. Bác Hồ đã xác định phẩm chất yêu thương, quý trọng con người là một trong những phẩm chất, chuẩn mực đạo đức cách mạng cao đẹp nhất của người đảng viên.<br />
<br />
Lòng yêu thương con người của Bác Hồ trước hết là dành cho đại đa số nhân dân lao động, người nghèo khổ, bị áp bức, bóc lột trên hành tinh chúng ta. Tình yêu thương con người của Bác thật bao la. Tình yêu thương con người đối với đồng bào mình, Bác Hồ chỉ có một ham muốn duy nhất là: “Tôi chỉ có một ham muốn duy nhất, ham muốn tột bật là làm sao cho nước ta hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”. Đối với Bác Hồ, cả cuộc đời chỉ vì dân, vì nước không có gì lớn lao và quý báu hơn dân với nước. Thương yêu dân tộc mình, thương yêu con người. Bác từng nói: “Cả đời tôi chỉ có một mục đích là phấn đấu cho quyền lợi của tổ quốc và hạnh phúc của quốc dân. Những khi tôi phải ẩn nấp nơi núi non, hoặc ra vào chốn tù tội, xông pha sự hiểm nghèo, là vì mục đích đó”.<br />
<br />
Tấm lòng yêu thương con người của Bác Hồ còn được thể hiện rõ trong quan hệ đồng chí, đồng đội, anh em. Nhưng đối với bản thân mình Bác đòi hỏi phải nghiêm khắc, nhưng đối với bạn bè, đồng chí phải rộng rãi, đòi hỏi tất cả mọi người phải có sự tôn trọng con người, tôn trọng lẫn nhau. Đối với cán bộ, đảng viên, Bác dạy học chủ nghĩa Mác-Lênin là để thương yêu nhau hơn. Bác nói: “Học chủ nghĩa Mác-Lênin là để sống với nhau cho có nghĩa, có tình”. Đối với Bác chỉ có nâng con người lên, chứ không cho phép hạ thấp, vùi dập con người xuống, dù cho họ có khuyết điểm, thiếu sót. Vì vậy, phải thực hiện tự phê bình và phê bình nhằm nâng cao điểm tích cực, hạn chế những tiêu cực để mỗi người,ngày càng tốt hơn, có ích hơn cho Đảng, cho đất nước. Và, Bác khuyên mọi người trong tự phê bình phải thẳng thắn, chân thành để giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ. Bác dạy “Ở đời ai cũng có chỗ tốt, chỗ xấu. Ta phải khéo nâng cao chỗ tốt, khéo sửa chữa chỗ xấu cho họ”. Đối với Đảng, Bác đòi hỏi “Đảng phải thương yêu cán bộ, nhưng thương yêu không phải vỗ về, nuông chiều, thả mặc. Thương yêu là giúp cho họ học tập thêm, tiến bộ thêm”.<br />
<br />
Tình thương yêu con người, thương yêu nhân dân của Bác càng thể hiện rõ hơn trong Di chúc của Bác. Trong Di chúc, Bác căn dặn Đảng và Chính phủ thực hiện công việc đầu tiên trong hàn gắn vết thương sau chiến tranh là “Đầu tiên là công việc đối với con người”. Đầu tiên là đối với cán bộ, binh sỹ, dân quân, du kích, thanh niên xung phong; đối với các liệt sĩ; với cha, mẹ, vợ, con thương binh, liệt sĩ; với phụ nữ, nông dân…. cuối cùng là những nạn nhân của chế độ cũ…Bác không bỏ xót đối tượng nào cả, thể hiện một tấm lòng thương yêu đối với tất cả mọi người.<br />
<br />
03:CẦN KIỆM LIÊM CHÍNH<br />
<br />
Đức tính “cần, kiệm, liêm, chính” theo Hồ Chí Minh là nền tảng của đời sống mới, là phẩm chất hàng đầu của đạo đức cách mạng. Đây là những đức tính mà bản thân mỗi cán bộ, đảng viên lấy đó để điều chỉnh, soi rọi, thực hiện trong mọi hoạt động. Cần kiệm, liêm, chính - cũng là phẩm chất của đạo đức truyền thống, nhưng được Bác Hồ đưa vào những nội dung theo yêu cầu mới, khác cơ bản về đối tượng thực hiện. Trong chế độ phong kiến cũng nêu những khái niệm cần, kiệm, liêm, chính, nhưng họ bắt nhân dân thực hiện để phục vụ cho quyền lợi của họ, chứ giai cấp phong kiến không bao giờ thực hiện. Còn đối với Bác Hồ, đề ra cần, kiệm, liêm, chính là bắt buộc cán bộ, đảng viên phải làm gương thực hiện để nhân dân noi theo, đem lợi ích cho dân, cho nước.<br />
<br />
Tháng 3-1947, do nhu cầu “kháng chiến, kiến quốc” Bác kêu gọi thi đua xây dựng “đời sống mới là cần, kiệm, liêm, chính” và giải thích rất rõ, dễ hiểu. Tháng 6-1949, để tiếp tục răn dạy cán bộ về đạo đức, Bác viết tác phẩm “Cần, kiệm, liêm, chính”. Bác coi bốn đức tính “cần, kiệm, liêm, chính” là những đức tính của người cán bộ cách mạng, như trời có bốn mùa, đất có bốn phương. Bác viết:<br />
<br />
“Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông.<br />
Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc.<br />
Người có bốn đức: Cần, kiệm. liêm, chính.<br />
Thiếu một mùa thì không thành trời.<br />
Thiếu một phương thì không thành đất.<br />
Thiếu một đức thì không thành người".<br />
<br />
Sau đó, Bác còn viết bốn bài báo đăng trên báo Cứu quốc giải thích rõ nội hàm bốn đức tính này.<br />
<br />
Trước hết, nói về cần: “Cần - làm việc phải đến đúng giờ, chớ đến trễ về sớm. Làm cho chóng, cho chu đáo. Việc ngày nào nên làm xong ngày ấy, chớ để ngày mai. Phải nhớ rằng: Dân đã lấy tiền mồ hôi, nước mắt để trả lương cho ta trong những thì giờ đó. Ai lười biếng tức là lừa gạt dân.” Bác yêu cầu mọi người phải cần, cả nước phải cần, Bác viết:<br />
<br />
“Người siêng năng thì mau tiến bộ.<br />
Cả nhà siêng năng thì chắc ấm no.<br />
Cả làng siêng năng thì làng phồn thịnh.<br />
Cả nước siêng năng thì nước mạnh giàu.”<br />
<br />
Tóm lại, cần là luôn luôn cố gắng, luôn luôn chăm chỉ, cả năm, cả đời. Phải thấy rõ “lao động là nghĩa vụ thiêng liêng, là nguồn sống, nguồn hạnh phúc của mỗi chúng ta”. Nhưng không phải quá trớn, phải biết nuôi dưỡng tinh thần và sức lực để làm việc cho lâu dài. Bác cho rằng “lười biếng là kẻ địch của cần”, vì vậy, lười biếng cũng là kẻ địch của dân tộc.<br />
<br />
- Nói về Kiệm: Kiệm là tiết kiệm sức lao động, tiết kiệm thì giờ của dân, của nước, của bản thân mình; tiết kiệm từ cái to, tới cái nhỏ. Kiệm là không xa xỉ, không lãng phí, không bừa bãi.<br />
<br />
Cần, kiệm là phẩm chất của mọi người lao động trong đời sống trong công tác. Cần và kiệm phải đi đôi với nhau, như hai chân của con người.<br />
<br />
Cần mà không Kiệm, “thì làm chừng nào xào chừng ấy” cũng như cái thùng không có đáy, nước đổ vào chừng nào chảy ra hết chừng ấy, không lại hoàn không.<br />
<br />
Bác yêu cầu “phải lãnh đạo tổ chức, giáo dục nhân dân tăng gia sản xuất và tiết kiệm”. Vì “dân đủ ăn, đủ mặt thì những chính sách của Đảng và Chính phủ đưa ra sẽ đễ dàng thực hiện. Nếu dân đói, dốt, bệnh thì chính sách của ta dù có hay mấy cũng không thực hiện được”.<br />
<br />
Cho nên, Kiệm mà không Cần, thì không tăng thêm, không phát triển được. Mà vật gì không tiến tức là thoái.<br />
<br />
Nhưng tiết kiệm không phải là bủn xỉn, không phải “xem đồng tiền bằng cái nống” gặp việc đáng làm cũng không làm, đáng tiêu cũng không tiêu. Tiết kiệm không phải ép bộ đội, nhân dân nhịn ăn, nhịn mặc; nhưng khi không nên tiêu xài thì một đồng xu cũng không nên tiêu. Khi có việc đáng làm, việc ích lợi cho đồng bào, cho tổ quốc, thì bao nhiêu công, tốn bao nhiêu của, cũng vui lòng. Như thế mới là kiệm. Việc đáng tiêu mà không tiêu là bủn xỉn, chứ không phải là kiệm. Tiết kiệm phải kiên quyết không xa xỉ. Việc đáng làm trong một giờ mà kéo dài hai, ba giờ là xa xỉ. Cán bộ, đảng viên ăn sang, mặc đẹp trong lúc đồng bào còn nghèo, thiếu cơm, thiếu áo là xa xỉ. Vì vậy, xa xỉ là có tội với tổ quốc, với đồng bào.<br />
<br />
Nói về “liêm”, Bác viết: “Những người ở các công sở từ làng cho đến Chính phủ trung ương đều tìm dịp phát tài, hoặc xoay tiền của Chính phủ hoặc khoét đục của nhân dân. Đến khi lộ ra, bị phạt thì mất hết cả danh giá mà của phi nghĩa đó cũng không được hưởng. Vậy những người trong công sở phải lấy liêm làm đầu”.<br />
<br />
“Liêm là trong sạch, không tham lam”, “luôn tôn trọng, giữ gìn của công và của dân”, “không xâm phạm một đồng xu, hạt thóc của nhà nước, của nhân dân”, “không tham địa vị, không tham tiền tài, không tham tâng bốc mình”.<br />
<br />
Trong các bài viết khác, Bác viết: “Chữ liêm phải đi đôi với chữ kiệm, cũng như chữ kiệm phải đi đôi với chữ cần. Có liệm mới liêm được”. Và, Bác dẫn lời Khổng Tử nói: “Người mà không liêm, không bằng súc vật”. Cụ Mạnh Tử nói: “Ai cũng tham lợi thì nước sẽ nguy”.<br />
<br />
Nói về chính, Bác viết: “Một người phải cần, kiệm, nhưng còn phải chính mới là người hoàn toàn. Trên quả đất có hàng muôn triệu người sống, số người ấy có thể chia thành hai hạng: Người thiện và người ác. Trong xã hội, tuy có trăm công, nghìn việc, song, những công việc ấy có thể chia làm hai thứ: việc chính và việc tà.<br />
<br />
Làm việc chính, là người thiện.<br />
Làm việc tà, là người ác.<br />
Siêng năng (cần), tiết kiệm (kiệm), trong sạch (liêm), chính là thiện; còn lười biếng, xa xỉ, tham lam là ác, là tà.<br />
<br />
Bác còn dặn: “Mình là người làm việc cần phải có công tâm, công đức. Chớ đem của công dùng vào việc tư. Chớ đem người tư làm việc công. Việc gì cũng phải công minh, chính trực, không nên vì tư ân, tư huệ hay tư thù, tư oán. Mình có quyền dùng người thì phải dùng những người có tài năng, làm được việc. Chớ vì bà con, bầu bạn mà bố họ vào chức nọ, chức kia. Chớ vì sợ mất lòng mà dìm những kẻ có tài hơn mình. Phải trung thành với Chính phủ, với đồng bào. Chớ lên mặt làm quan cách mạng”.<br />
<br />
Chính còn có nghĩa là ngay thẳng, không tà, là đúng đắn, chính trực. Đối với mình không tự cao, tự đại; đối với người không nịnh trên, khinh dưới, không dối trá, lừa lọc, luôn giữ thái độ chân thành khiêm tốn, đoàn kết. Đối với việc thì để công lên trên lên trước việc tư. Được giao nhiệm vụ gì quyết làm cho kỳ được “việc thiện dù nhỏ mấy cũng làm, việc ác thì dù nhỏ mấy cũng phải tránh”. Theo Bác Hồ thì, cần, kiệm, liêm, chính là những đức tính không thể thiếu đối với cán bộ, đảng viên. Bởi vì “cán bộ các cơ quan, đoàn thể; cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ. Dù to hay nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp ăn của đút”. “Những người trong các công sở đều có nhiều hoặc ít quyền hành. Nếu không giữ được cần, kiệm, liêm, chính thì dễ trở nên tai hại, biến thành sâu mọt của dân”. Cần, kiệm, liêm, chính là thước đo văn minh, tiến bộ của một dân tộc. “Một dân tộc biết cần, kiệm, liêm là một dân tộc văn minh, tiến bộ”.<br />
<br />
Người cán bộ giữ được cần, kiệm, liêm, chính là người chí công, vô tư là chính tâm, thân dân - là người có ý thức phục vụ nhân dân, đặt lợi ích của nhân dân, của tổ quốc, của Đảng lên trên hết.  <br />
<br />
Chương 03: MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG VÀ CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN TRONG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH<br />
<br />
Chủ tịch Hồ Chí minh là lãnh tụ cách mạng quan tâm nhiều nhất đến vấn đề nâng cao đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân. Đặc biệt, từ khi Đảng cầm quyền, Bác càng quan tâm đến vấn đề này hơn. Trong di sản mà Bác để lại cho toàn Đảng, toàn dân, có nhiều tác phẩm, bài nói, bài viết chỉ bàn về đạo đức cách mạng và mặt đối lập với đạo đức cách mạng là chủ nghĩa cá nhân.<br />
<br />
Theo Bác Hồ, chủ nghĩa cá nhân hoàn toàn trái với đạo đức cách mạng. Định nghĩa về chủ nghĩa cá nhân, Bác Hồ viết: "Chủ nghĩa cá nhân là việc gì cũng lo cho lợi ích riêng của mình, không quan tâm đến lợi ích của tập thể, miễn mình béo, mặc thiên hạ gầy".<br />
<br />
Hay "chủ nghĩa cá nhân là một thứ rất gian giảo, xảo quyệt, nó khéo dỗ dành người ta đi xuống dốc. Nó là thứ vi trùng rất độc, đẻ ra hàng trăm thứ bệnh: Tham ô, hủ hoá, lãng phí, xa hoa, tham danh trục lợi, thích địa vị quyền hành, tự cao tự đại, coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, độc đoán, độc quyền, quan liêu, mệnh lệnh, lười biếng v.v…<br />
<br />
Vì vậy, để giữ vững đạo đức cách mạng, thì bất cứ trong điều kiện, hoàn cảnh nào cũng phải quyết tâm đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân. "Chủ nghĩa cá nhân là một trở ngại lớn cho việc xây dựng chủ nghĩa, cho nên, thắng lợi của chủ nghĩa xã hội không thể tách rời thắng lợi của cuộc đấu tranh từ bỏ chủ nghĩa cá nhân".<br />
<br />
Xét mối quan hệ này, chúng ta cần nhận thức thống nhất giữa lợi ích chung và lợi riêng. Cần phân biệt đúng đắn giữa chủ nghĩa cá nhân và lợi ích cá nhân. Như nói ở trên, theo Bác Hồ, chủ nghĩa cá nhân là việc gì cũng nghĩ đến lợi ích riêng của mình trước hết. Họ không lo "mình vì mọi người" mà chỉ muốn "mọi người vì mình". Cho nên, phải "quét sạch chủ nghĩa cá nhân". "Nhưng đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân không phải là gây xéo lên lợi ích cá nhân. Vì mỗi người đều có đời sống riêng. Mỗi người đều có quyền làm giàu cho bản thân và gia đình mình; nhưng những lợi ích đó không trái với lợi ích của tập thể, lợi ích của Đảng, của tổ quốc, dân tộc".<br />
<br />
Nếu để chủ nghĩa cá nhân phát triển thì sẽ ảnh hưởng xấu đến Đảng, dân tộc. Bác chỉ rõ: "Một dân tộc, một Đảng và một con người ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất thiết hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân".<br />
<br />
Cho nên, chủ nghĩa cá nhân là kẻ thù của đạo đức cách mạng, kẻ thù của chủ nghĩa xã hội. Người cách mạng, cán bộ, đảng viên phải "quét sạch" nó.<br />
<br />
Chương 04:  NGUYÊN TẮC XÂY DỰNG VÀ TU DƯỠNG ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG<br />
<br />
Đã tiếp thu, rèn luyện và tu dưỡng đạo đức cách mạng không phải ai cũng thực hiện được. Theo Bác Hồ, thì chỉ có những người có cái tâm trong sáng mới đủ bản lĩnh và năng lực lãnh hội được những chuẩn mực của đạo đức cách mạng. Và, khi đạo đức cách mạng đã vững rồi thì “giàu sang không quyến rũ, nghèo khó không chuyển lay, uy vũ không khuất phục”. Đây cũng là phẩm chất của người đảng viên cộng sản. Đức tính trên cũng được coi là khí phách của đấng trượng phu của thời phong kiến. Nhưng với người cán bộ cách mạngm, đạo đức cách mạng dù bất luận hoàn cảnh nào đều phải giữ mình; trước sự giàu sang không thể làm cho mình thèm muốn, sự nghèo khó cũng không thể làm cho mình lay chuyển, nao núng; uy quyền, võ lực, hay dù phải đứng trước cái chết cũng không thể làm cho mình khuất phục, đầu hàng.<br />
<br />
Chúng ta biết rằng, học trên sách vở thì rất dễ, nhưng việc lãnh hội, rèn luyện và thực hành là cực kỳ khó. Cho nên, muốn có được đạo đức cách mạng, mỗi cán bộ, đảng viên cần thực hiện tốt các nguyên tắc sau:<br />
<br />
01: Nói đi đôi với làm, nêu gương tốt, làm việc tốt.<br />
<br />
Nói đi đôi với làm, nêu gương tốt làm việc tốt. Đây không chỉ là nguyên tắc rèn luyện mà còn là sự phân biệt giữa đạo đức cách mạng và phi đạo đức cách mạng. Chúng ta biết, nói mà không làm là đặc tính của giai cấp bóc lột, cho nên, lời nói phải đi đôi với việc làm và phải thực hiện việc làm gương - đó là đạo đức của người cách mạng. Bác từng nói: "Một tấm gương sống còn có giá trị hơn 100 bài diễn văn tuyên truyền", "trước mắt quần chúng, không phải cứ viết lên trán hai chữ cộng sản mà ta được họ yêu quý. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách đạo đức". Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước. Hô hào dân tiết kiệm, mình phải tiết kiệm trước đã..” Cho nên, đảng viên phải làm gương mọi mặt cho quần chúng noi theo. Thực hiện đúng lời dạy của Bác “Đảng viên đi trước, làng nước theo sau”. Việc làm gương phải thực hiện ở mọi nơi, mọi việc, phải quán triệt trong toàn Đảng và toàn hệ thống chính trị, từ cán bộ cấp Trung ương đến tận cơ sở.<br />
<br />
Bác Hồ kính yêu là tấm gương nói đi đôi với làm. Cho nên, ở Người có sức thuyết phục lớn, có một sức hút mãnh liệt làm cho cả dân tộc, các giai tầng xã hội, các thế hệ người Việt Nam đều tin tưởng, kính phục, yêu quý và đi theo lời kêu gọi của Người. Các vị lãnh tụ cộng sản và nhân dân yêu chuộng hoà bình trên thế giới cũng kính yêu Người.<br />
<br />
02: Xây đi đôi với chống.<br />
Nghĩa là đồng thời với việc giáo dục, xây dựng, rèn luyện đạo đức cách mạng phải đi đôi với đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, chống những hành vi phi đạo đức.<br />
<br />
Việc xây dựng đạo đức cách mạng không phải dễ dàng, bởi ai lại không thích quyền lực, ai thấy vàng, tiền bạc, nhà cao cửa rộng lại không ham, cho nên đấu tranh để thắng những ham muốn của bản thân mình là một cuộc đấu tranh gay go và phức tạp. Nhưng nếu chúng ta kiên quyết thì sẽ thành công. Hơn nữa, trong Đảng, trong mỗi con người vì những lý do khác nhau, nên không phải mọi người đều tốt. Bác Hồ chỉ rõ những kẻ địch cần chống trước hết là chống thói quen và truyền thống lạc hậu; và đặc bịêt là chống chủ nghĩa cá nhân đang ẩn chứa trong mỗi con người, khi có điều kiện tác động nó sẽ phát triển. Cho nên, Bác yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên "trước hết phải đánh thắng lòng tà là kẻ thù trong mình". Và phải phê phán đấu tranh loại bỏ hàng trăm thứ bệnh do chủ nghĩa cá nhân gây ra vì nó là vật cản nguy hiểm cho việc xây dựng đạo đức cách mạng. Cho nên, chúng ta chống là nhằm để xây dựng, đi liền với xây và lấy xây làm chính, lấy gương tốt để giáo dục và xây dựng đạo đức cách mạng cho mỗi người và đạo đức trong Đảng.<br />
<br />
03: Tu dưỡng bền bỉ suốt đời.<br />
Bác đã chỉ rõ: "Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do quá trình đấu tranh rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong".<br />
<br />
Việc tu dưỡng đạo đức cách mạng phải trên tinh thần tự giác, tự nguyện, dựa vào lương tâm của mỗi người và sự đóng góp xây dựng của tập thể của quần chúng. Người khẳng định, đã là người thì ai cũng có chỗ hay, chỗ dở, chỗ xấu, chỗ tốt, ai cũng có thiện, có ác ở trong mình. Nhưng tốt, xấu, hiền, dữ, thiện, ác đều lệ thuộc vào sự giáo dục và rèn luyện mà nên. Cho nên, vấn đề là chúng ta phải biết và dám dũng cảm nhìn thẳng vào sự thật bản thân con người mình và dựa vào tập thể để thấy cái tốt, cái hay để phát huy, cái xấu, cái ác để khắc phục. Đã là con người thì khó tránh khỏi vấp phải khuyết điểm, sai lầm. Vấn đề là phải dũng cảm nhìn nhận sai lầm, khuyết điểm để sửa chữa, khắc phục. Và, việc tu dưỡng đạo đức cách mạng phải gắn liền với thực tiễn hoạt động cách mạng, phải bền bỉ, ở mọi lúc, mọi nơi, mọi hoàn cảnh. Bác đã viết “tư tưởng cộng sản với tư tưởng cá nhân ví như lúa với cỏ dại. Lúa phải chăm bón rất khó nhọc thì mới tốt được. Còn cỏ dại không cần chăm sóc cũng mọc lên lu bù. Tư tưởng cộng sản phải rèn luyện mới có được. Còn tư tưởng cá nhân thì cũng như cỏ dại, sinh sôi, nảy nở rất dễ. Vì vậy gột rửa chủ nghĩa cá nhân ví như rửa mặt thì phải rửa hàng ngày".<br />
<br />
Cho nên, xây dựng, rèn luyện tu dưỡng đạo đức cách mạng và chống chủ nghĩa cá nhân là phải được tiến hành đồng thời, thường xuyên, bền bỉ, suốt đời trong quá trình hoạt động cách mạng.<br />
<br />
Trên đây là 3 nguyên tắc cơ bản rèn luyện đạo đức của cá nhân để trở thành người có đạo đức cách mạng. Mỗi cán bộ, đảng viên nếu thực tâm làm theo lời Bác thì sẽ hoàn toàn thực hiện được. Vì những điều Bác dạy, không phải chỉ có vĩ nhân hay lãnh tụ mới thực hiện được, mà mọi người đều thực hiện được vì đó là những điều rất bình dị trong cuộc sống của mỗi người.<br />
<br />
<br />
Vận dụng<br />
Tư tưởng về đạo đức có thể nói đó là hợp điểm tư tưởng về con người và tư tưởng về văn hoá của Hồ Chí Minh.<br />
<br />
Với con người, Hồ Chí Minh coi đạo đức là gốc, là cái quan trọng nhất quyết định tính cách, tức là nhân cách. Đức phải gắn với tài và tài phải có đức đảm bảo. Theo Người, có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó, còn có tài mà không có đức sẽ không làm được điều ích lợi cho đời , thậm chí còn có hại, sinh ra những thói xấu như kiêu căng, tự mãn, ích kỷ rồi thành hư hỏng, có khi phạm tội. Bởi thế, Người đòi hỏi có đức phải có tài và có tài phải có đức.<br />
<br />
Văn hóa có cốt lõi của nó là ở đạo đức. Thiện- Ác, Tốt- Xấu, hay- dở đều có ở con người và phần nhiều là kết quả của giáo dục. Tuỳ thuộc ở môi trường, hoàn cảnh và giáo dục như thế nào mà con người có thể tốt hay xấu. Do đó, giáo dục trước hết và chủ yếu là giáo dục đạo đức, sửa chữa, cải tạo cái xấu, vun trồng, tập luyện cái tốt. Người xác định học để làm việc, làm người, học để phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân, phục vụ giai cấp - dân tộc - nhân loại . Người đặc biệt chú trọng tới các đức tính mà giáo dục các đức tính thì phải chăm lo từ bé, có sự chỉ dẫn tỷ mỷ, chu đáo, nêu gương của các thầy giáo, cô giáo. Giáo dục nhà trường là trung tâm để hình thành nhân cách. Song phải có hỗ trợ lẫn nhau giữa giáo dục gia đình - nhà trường và xã hội. Những chỉ dẫn của Hồ Chí Minh về đạo đức và giáo dục thực hành đạo đức đều mang ý nghĩa Văn hoá đạo đức, thấm vào nhận thức, tình cảm, vào hành vi, lối sống, sự ứng xử của con người, giữa người với người trong xã hội.<br />
<br />
 Vận dụng phương châm xử thế của người xưa, Người nói rõ đạo đức công dân, trách nhiệm công dân và thái độ ứng xử đối với dân, gắn liền trách nhiệm và lợi ích, quyền và nghĩa vụ. Với Hồ Chí Minh, chính trị là đoàn kết và thanh khiết, từ việc nhỏ tới việc lớn. Theo Hồ Chí Minh, phải xây dựng Đảng chân chính cách mạng, làm cho Đảng trở thành Đảng của đạo đức và văn minh. Đạo đức cách mạng trong Đảng, trong cán bộ, đảng viên, nhất là ở những người lãnh đạo, cầm quyền là hạt nhân của đạo đức cách mạng - một nền đạo đức mới tiêu biểu cho xã hội mới.<br />
<br />
Điều quan trọng và thiết thực là ở chỗ, Người chỉ rõ: phải thực hành đạo đức cách mạng trong công việc, trong tổ chức, trong phong trào thi đua yêu nước, trong lối sống và hành vi của cán bộ công chức đặc biệt là những người lãnh đạo có chức có quyền. Chú trọng bồi dưỡng tình cảm cách mạng, đem những nội dung mới, tinh thần đổi mới và quyết tâm đổi mới để xây dựng đạo đức cách mạng. Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng mới làm nên sự nghiệp. Cán bộ phải tích cực gần gũi mật thiết với quần chúng như máu với thịt, như cá với nước.<br />
<br />
Người căn dặn cán bộ đảng viên, dù bất cứ ở cương vị gì, giữ trọng trách gì cũng phải luôn sâu sát dân và hướng tới dân, vì dân. Phải tận trung với nước, tận hiếu với dân, làm đầy tớ và công bộc của dân, do đó phải dân chủ, không rơi vào ''quan chủ'', là đầy tớ chứ không phải lên mặt quan cách mạng''. Làm điều lợi cho dân, tránh điều hại cho dân dù chỉ là một cái hại nhỏ. Không đảm bảo công bằng làm cho lòng dân không yên thì đó là điều nguy hại cho chế độ.<br />
Đạo đức cách mạng ở trong Đảng đòi hỏi phải nêu cao tính tiên phong gương mẫu, đấu tranh phê bình và tự phê bình, có lý có tình, thấu tình đạt lý, ăn ở với nhau có tình có nghĩa, phải có tình thương yêu đồng chí, giữ gìn sự sự đoàn kết trong Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình. Công chức nhà nước phải tận tâm tận lực với công việc, chấp hành luật pháp, tôn trọng kỷ luật công vụ, thi hành đạo đức công chức.<br />
<br />
Ai nấy đều biết 6 điều Người dạy Công an nhân dân, trong đó có những lời thấm thía: với chính phủ phải tuyệt đối trung thành, với dân phải kính trọng lễ phép. Đây là những lời dạy chung cho tất cả mọi người, thấm nhuần đạo đức và văn hoá đạo đức mà nổi bật là Văn hóa trọng dân và trọng pháp.<br />
<br />
- 5 điều Bác Hồ dạy thiếu niên nhi đồng với những nội dung: yêu Tổ quốc, yêu đồng bào, yêu lao động, khiêm tốn, thật thà, dũng cảm là những bài học chuẩn bị cho thế hệ trẻ vào đời làm công dân tốt của nhà nước, làm chiến sĩ trung thành của chế độ.<br />
<br />
Đạo đức cách mạng còn đòi hỏi tẩy trừ những thói xấu: tệ lãng phí, quan liêu, tham ô, tham nhũng, lãng phí là không thương dân, mỗi đồng tiền bát gạo mà chúng ta tiêu dùng đều từ mồ hôi nước mắt của dân, thương dân thì phải tiết kiệm. Tham ô là ăn cắp của công, ăn cắp của dân, là có tội với dân, là tội ác và kẻ thù của chế độ mới. Thực hành đạo đức cách mạng thì phải ra sức đấu tranh chống quan liêu tham nhũng, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân. Đó là một cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ chống lại những thói hư tật xấu trong con người mình, cuộc đấu tranh đó âm thầm và quyết liệt, có không ít sự đau đớn ở trong lòng.  <br />
<br />
- Đạo đức cách mạng đối với tuổi trẻ, với thanh niên càng trở nên quan trọng để nuôi dưỡng hoài bão, chí khí lớn, nghị lực đấu tranh cho chân lý, đạo lý, tình thương, lẽ phải. Trung thực - Khiêm tốn - Đoàn kết - Vị tha- Nhân ái - Khoan dung, đó là những đức tính và giá trị đạo đực mà Người ra sức thực hiện ở mỗi con người. Lại có một điều thấm thía khác. Người căn dặn thanh niên: tuổi trẻ phải có chí tiến thủ, hoài bão lo việc lớn, vì nước vì dân trẻ phải biết tránh xa danh vọng, quyền lực vì những cái đó dễ làm hư hỏng con người.<br />
<br />
Người không chỉ nêu lên những nội dung phong phú của đạo đức cách mạng mà còn gợi mở bao điều quý giá khác về giáo dục, thực hiện đạo đức cách mạng. Theo Người, phương pháp phải thích hợp, mềm dẻo, linh hoạt, đã đúng lại còn phải khéo nữa thì mới có sức thuyết phục lòng người .<br />
<br />
Người đã nâng phương pháp giáo dục và thực hành đạo đức cách mạng lên tầm phương pháp tư tưởng, lên trình độ khoa học và nghệ thuật, có sức lôi cuốn, thuyết phục mạnh mẽ lòng người ở mọi đối tượng, tầng lớp, thế hệ.<br />
<br />
Như đã nói ở trên, sức thuyết phục mạnh mẽ của đạo đức Hồ Chí Minh không chỉ ở trí tuệ, tư tưởng mà còn là ở sự khéo léo, tinh tế nhất là ở tấm gương trong sáng, mẫu mực về đạo đức của Người trong đời sống đạo đức hàng ngày.<br />
<br />
Người đã thực hiện nhất quán giữa tư tưởng đạo đức và hành động đạo đức. Suốt một đời tận tụy vì]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[Bài tiểu luận Môn "Tư tưởng Hồ Chí Minh" về lĩnh vực "Văn hóa"]]></title>
			<link>https://dd.sinhvienhoahoc.net/thread-995.html</link>
			<pubDate>Fri, 29 Jan 2010 11:16:08 +0700</pubDate>
			<dc:creator><![CDATA[<a href="https://dd.sinhvienhoahoc.net/member.php?action=profile&uid=2">08HH</a>]]></dc:creator>
			<guid isPermaLink="false">https://dd.sinhvienhoahoc.net/thread-995.html</guid>
			<description><![CDATA[Các bạn Click vô đây để download  bài tiểu luận môn Tư Tưởng Hồ Chí Minh về" TT HCM trong lĩnh vực Văn hóa" : <a href="http://www.mediafire.com/download.php?5yimjyndgmz" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Vị trí của tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh trong tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh.doc</a> <br />
Chúc các bạn thành công nhé!]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[Các bạn Click vô đây để download  bài tiểu luận môn Tư Tưởng Hồ Chí Minh về" TT HCM trong lĩnh vực Văn hóa" : <a href="http://www.mediafire.com/download.php?5yimjyndgmz" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Vị trí của tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh trong tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh.doc</a> <br />
Chúc các bạn thành công nhé!]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[Một xã hội cho con người, vì con người - Chủ nghĩa xã hội trong tư tưởng Hồ Chí Minh]]></title>
			<link>https://dd.sinhvienhoahoc.net/thread-994.html</link>
			<pubDate>Fri, 29 Jan 2010 11:15:52 +0700</pubDate>
			<dc:creator><![CDATA[<a href="https://dd.sinhvienhoahoc.net/member.php?action=profile&uid=2">08HH</a>]]></dc:creator>
			<guid isPermaLink="false">https://dd.sinhvienhoahoc.net/thread-994.html</guid>
			<description><![CDATA[<span style="font-family: Verdana;" class="mycode_font"><span style="font-size: 2pt;" class="mycode_size"><span style="color: Black;" class="mycode_color">Tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội (CNXH) là một bộ phận quan trọng trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó là một nội dung rộng lớn. Trong phạm vi bài viết nhỏ này, chúng tôi chỉ xin đề cập một vài khía cạnh trong tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về CNXH.<br />
Trước hết phải khẳng định rằng: Hồ Chí Minh hướng tới CNXH là hướng tới tìm một con đường cứu nước mới sau khi tất cả các con đường khác đã thất bại. Khát vọng và “ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”(1) đã dẫn dắt Hồ Chí Minh trên hành trình bôn ba tìm kiếm con đường cứu nước giải phóng dân tộc, mang lại thống nhất, độc lập cho đất nước, tự do, hạnh phúc cho nhân dân - con đường cách mạng vô sản, gắn độc lập dân tộc với CNXH. Khi đọc Luận cương của Lê-nin về vấn đề dân tộc và thuộc địa, Người đã khẳng định: “Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta”(2). Chính tâm niệm và khát vọng lớn này của Hồ Chí Minh đã hướng Người lựa chọn con đường gắn độc lập dân tộc với CNXH.<br />
Thực tiễn cách mạng Việt Nam cho thấy, từ khi thành lập Đảng (năm 1930) đến năm 1954, nhiệm vụ chính trị trước mắt, có tính chất quyết định và được ưu tiên hàng đầu của cách mạng là đấu tranh chống thực dân xâm lược, giành độc lập tự do cho dân tộc. Chính vì thế, những vấn đề liên quan đến CNXH ít được đề cập trong các bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh ở giai đoạn này. Những nội dung về các vấn đề của CNXH chỉ thực sự được bàn tới một cách cụ thể và sâu sắc sau khi Cách mạng Tháng 8-1945 thành công, đặc biệt sau khi miền Bắc được giải phóng bước vào thời kỳ quá độ lên CNXH (năm 1954). <br />
Vào cuối những năm 80, đầu những năm 90 của thế kỷ XX, khi mô hình CNXH hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu rơi vào khủng hoảng và sụp đổ, các thế lực thù địch với Đảng Cộng sản Việt Nam đã lu loa lên rằng: Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã sai lầm ngay từ đầu khi đưa một học thuyết ra đời từ phương Tây (tức chủ nghĩa Mác - Lê-nin) áp dụng vào một nước phương Đông như Việt Nam v.v.. Đồng thời V.I.Lê-nin đã từng nhận định rằng hiện thời chủ nghĩa cộng sản (CNCS) chỉ có thể thắng lợi ở phương Tây, nhưng sau này với sự giúp đỡ của các nước đã tiến hành cách mạng XHCN, CNCS sẽ lan sang châu Á. Với nhãn quan chính trị rộng lớn của một bậc thiên tài, từ những năm 20 của thế kỷ XX, trước khi tiến hành truyền bá lý luận chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào Việt Nam, Hồ Chí Minh đã đặt ra câu hỏi CNCS có áp dụng được vào châu Á nói chung và ở Đông Dương nói riêng không?. Người khẳng định rằng mặc dù có nhiều chủ nghĩa khác nhau nhưng chỉ có chủ nghĩa Mác - Lê-nin là chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất, khoa học nhất. Hơn thế nữa, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn khẳng định trong bài báo “Đông Dương” tháng 5-1921: CNCS thâm nhập dễ dàng vào châu Á, dễ dàng hơn là ở châu Âu. Người đã chỉ ra các căn cứ đầy tính thuyết phục minh chứng cho khẳng định này. Ở nước ta có đầy đủ những tiền đề về tư tưởng, văn hóa, kinh tế, xã hội... bảo đảm cho một lý thuyết có nguồn gốc phương Tây - chủ nghĩa Mác - Lê-nin có thể được vận dụng thành công. Mặt khác, dù Người khẳng định chủ nghĩa Mác như “cẩm nang thần kỳ”, như “mặt trời soi sáng” nhưng ngay từ đầu Người đã có cách nhìn nhận rất biện chứng về học thuyết này: CNXH trước tiên là hướng tới tìm một con đường cứu nước. Chủ nghĩa Mác đến với Việt Nam không phải là một học thuyết như các học thuyết khác, mà như một công cụ giải phóng dân tộc, nhằm giải quyết những vấn đề thực tiễn lịch sử đang đặt ra là đánh đổ đế quốc, phong kiến giành độc lập, tự do cho đất nước. Mặt khác, trong điều kiện dân trí thấp kém của nước ta những năm đầu thế kỷ XX, với hơn 90% dân số là nông dân mà phần lớn lại mù chữ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những cách thức hết sức độc đáo mà hiệu quả để thể hiện những quan điểm của mình về CNXH. Quan điểm của Người về CNXH rất ngắn gọn, đơn giản, mộc mạc, nôm na, dễ hiểu, phù hợp với từng điều kiện, hoàn cảnh, từng đối tượng khác nhau. Người nói bằng tiếng nói của nhân dân để diễn đạt một trong những lý thuyết đầy tính bác học - lý thuyết về CNXH. Người không định nghĩa về CNXH với những tiêu chí đầy đủ, toàn diện, hoàn chỉnh của một mô hình lý tưởng được xây dựng sẵn để từ đó bắt thực tiễn phải khuôn theo. Hoạt động thực tiễn tới đâu thì nhận thức lý luận của Hồ Chí Minh về CNXH mở rộng ra tới đó. Dù Người không có một tác phẩm chuyên biệt nào bàn về CNXH nhưng tư tưởng về CNXH xuyên suốt trong nhiều tác phẩm của Hồ Chí Minh. Người có thể đưa ra định nghĩa về CNXH xét theo mục tiêu của CNXH hay theo các lĩnh vực cụ thể của đời sống xã hội. Người cũng có thể tiếp cận XHCN theo mục tiêu, con đường, cách thức, biện pháp, lực lượng xã hội tổ chức thực hiện... để đạt tới mục tiêu đó. Dù theo cách nào, thì tư tưởng Hồ Chí Minh về CNXH bao trùm lên tất cả là một chế độ xã hội hướng tới con người, cho con người, vì con người. Trong chế độ xã hội này, con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực mà xã hội đó hướng tới phục vụ lợi ích và phát huy sức mạnh. Có thể nhận thấy rõ tư tưởng bao trùm này qua một số quan niệm Người đưa ra để nhận diện chế độ XHCN.<br />
Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, CNXH là “thế giới của loài người” để phân biệt với thế giới cũ, không xứng đáng với con người theo nghĩa tốt đẹp, thế giới trong đó con người quan hệ với con người không theo lẽ công bằng, nhân đạo, thậm chí, thế giới của những sinh vật có hình dáng giống con người nhưng không phải con người. Xã hội thực dân kiểu cũ của Pháp ở Việt Nam là một điển hình của thế giới cũ đó, nơi con người “bị bịt mồm và bị giam hãm, bị làm cái đồ để tế ông thần tư bản”, nơi đó những con người bị xem như “bầy người”, họ “không biết suy nghĩ nữa” và “hoàn toàn vô dụng trong việc cải tạo xã hội”. Nói chuyện với cán bộ, sinh viên Việt Nam tại Mát-xcơ-va ngày 1-2-1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định xã hội XHCN là: “một thế giới xã hội chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa không có người bóc lột người, mọi người sung sướng, vẻ vang, tự do, bình đẳng, xứng đáng là thế giới của loài người”(3). <br />
Mục đích của CNXH là tất cả vì lợi ích của đông đảo những người lao động. Tư tưởng này được Hồ Chí Minh nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong những điều kiện, hoàn cảnh khác nhau, với những đối tượng hết sức khác nhau. Nói chuyện với nhân dân tỉnh Hải Ninh ngày 20-2-1960 khi miền Bắc đang tiến hành cuộc cách mạng XHCN, Người khẳng định: “CNXH là làm cho mọi người dân được sung sướng, ấm no”. Với Đại hội Đảng bộ thành phố Hà Nội ngày 20-6-1960, Người nói: “Mục đích của CNXH là không ngừng nâng cao mức sống của nhân dân”. Trong lời khai mạc Liên hoan anh hùng, chiến sĩ thi đua toàn quốc lần thứ 3 ngày 4-5-1962, Người phát biểu: “CNXH là nhằm nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân”. Cụ thể hơn, mục đích của CNXH là gì? Nói một cách giản đơn và dễ hiểu là không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, trước hết là nhân dân lao động. Như vậy, dù diễn đạt bằng các ngôn từ khác nhau, CNXH theo Hồ Chí Minh là một xã hội hướng tới phục vụ lợi ích vật chất và tinh thần của đông đảo những người lao động. Người lao động là những người sản xuất ra phần lớn của cải vật chất và tinh thần cho xã hội, bảo đảm sự tồn tại và phát triển của xã hội, vì vậy xét về lô-gic, họ phải được hưởng thụ một cách xứng đáng những giá trị mà họ tạo ra. Điều giản dị và dường như tất yếu đó không bao giờ xảy ra dưới chế độ TBCN hay các chế độ xã hội khác không phải là CNXH. Ở các chế độ xã hội đó, người lao động được hưởng phần rất nhỏ bé những giá trị xã hội mà họ tạo ra, còn phần lớn rơi vào tay những “ông chủ”, những kẻ thống trị. <br />
“Đời sống vật chất” ở đây được Người diễn đạt rất mộc mạc, bình dị, có khi là “cơm ăn, áo mặc”, có khi là “thoát nạn bần cùng, có công ăn việc làm, được ấm no”, có khi là “đủ ăn, đủ mặc, ngày càng sung sướng”. Ở mức độ cao hơn, đời sống vật chất của con người là những lợi ích cá nhân đúng đắn của họ. Năm 1958, bàn về đạo đức cách mạng, Người khẳng định: “Không có chế độ nào tôn trọng con người, chú ý xem xét những lợi ích cá nhân đúng đắn và bảo đảm cho nó được thỏa mãn bằng chế độ xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa. Trong xã hội có giai cấp bóc lột thống trị, chỉ có lợi ích cá nhân của một số rất ít người thuộc giai cấp thống trị là được thỏa mãn, còn lợi ích cá nhân của quần chúng lao động thì bị giày xéo”(4). <br />
Cũng như vậy, các cấp độ của đời sống tinh thần ngày càng tăng lên song cũng được thể hiện rất trực quan, giản dị. Có khi là “được học hành, có văn hóa cao, có đời sống tươi vui, hạnh phúc”, lúc khác dân giã hơn, mộc mạc hơn: “ai nấy được đi học, ốm đau có thuốc, già không lao động được thì nghỉ, những phong tục tập quán không tốt dần dần được xóa bỏ”(5). Đời sống tinh thần ở mức độ cao hơn là sự công bằng, bình đẳng: “Không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng”. Nhu cầu tinh thần này hay chính là cách thức phân phối những giá trị được tạo ra trong CNXH được Người khẳng định trong khi trả lời những câu hỏi của cử tri Hà Nội ngày 10-5-1958: CNXH là công bằng, hợp lý, làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm thì không được hưởng, những người già yếu hoặc tàn tật sẽ được nhà nước giúp đỡ chăm nom”. Ở mức độ cao hơn nữa, thước đo giá trị đời sống tinh thần là trạng thái dân chủ của xã hội đó. Chế độ XHCN và CSCN là chế độ do nhân dân lao động làm chủ. Đây là chế độ dân chủ nhân dân, dân chủ của số đông, nó khác biệt cơ bản về chất với các chế độ dân chủ của số ít đã từng tồn tại trong lịch sử như dân chủ chủ nô hay dân chủ tư sản. <br />
Như vậy, mục đích nâng cao đời sống của đông đảo nhân dân lao động về cả vật chất và tinh thần là tiêu chí tổng quát để khẳng định và kiểm nghiệm tính chất XHCN của các lý luận CNXH và các chính sách thực tiễn. Có thể thấy, những vấn đề mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt ra từ hàng nửa thế kỷ trước đây vẫn còn nguyên tính chất thời sự cho ngày hôm nay, khi mà tình cảnh nghèo đói của hàng trăm triệu người trên thế giới vẫn chưa được giải quyết, chưa có đường ra. Đó là vấn đề làm sao mang lại hạnh phúc cho số đông người lao động hay làm thế nào để khắc phục tình trạng nghèo đói, bệnh tật - những vấn đề mang tính chất toàn cầu. <br />
Như vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh về CNXH trước hết nhìn nhận con người như là mục tiêu quan trọng nhất của chế độ xã hội đó. Mặt khác, trong tư tưởng Hồ Chí Minh về CNXH, con người cũng được nhìn nhận như là động lực chính của cách mạng. Do đó “muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, cộng sản chủ nghĩa phải xây dựng con người xã hội chủ nghĩa, con người cộng sản chủ nghĩa. Muốn có con người xã hội chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa thì phải xây dựng tư tưởng xã hội chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa. Mà muốn có tư tưởng xã hội chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa thì phải gột sạch chủ nghĩa cá nhân... Mọi người đều phải có tư tưởng “mình vì mọi người, mọi người vì mình”(6). Người khẳng điều này năm 1959 khi miền Bắc đang bước vào thời kỳ quá độ lên CNXH. Con người XHCN phải là con người “vừa hồng, vừa chuyên”, vừa có đức, vừa có tài trong đó đạo đức phải là gốc rễ. Người từng nói: “Có tài mà không có đức là người vô dụng, có đức mà không có tài làm việc gì cũng khó!” Tuy nhiên, đức, tài không phải tự nhiên mà có, nó là sản phẩm của quá trình trau dồi, rèn luyện, học hành phấn đấu, nỗ lực của từng cá nhân dưới sự hậu thuẫn, trợ giúp của xã hội. Trong bài nói về đạo đức cách mạng đăng trên Tạp chí Học tập số 12-1958, Người khẳng định: Có gì sung sướng, vẻ vang hơn là trau dồi đạo đức cách mạng để góp phần xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng CNXH và giải phóng loài người”. Người đặc biệt nhấn mạnh: chướng ngại vật lớn trên con đường xây dựng CNXH chính là tư tưởng cá nhân chủ nghĩa, thắng lợi của CNXH không thể tách rời thắng lợi của cuộc đấu tranh trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân. Ngày 31-12-1958, nói chuyện với học sinh và giáo viên trường phổ thông cấp 3 Chu Văn An (Hà Nội), Hồ Chí Minh vạch rõ: Tư tưởng XHCN trái hẳn với tư tưởng cá nhân chủ nghĩa. Tuy nhiên, Người cũng phân biệt rất rõ chủ nghĩa cá nhân với những lợi ích cá nhân đúng đắn của con người, “Chống chủ nghĩa cá nhân không phải là giày xéo lên lợi ích cá nhân”. CNXH là một chế độ xã hội trong đó có sự hòa quyện một cách nhuần nhuyễn giữa cá nhân và tập thể, cá thể và cộng đồng, lợi ích cộng đồng được đề cao song không làm mất đi và lu mờ cái tôi của mỗi cá nhân. Trong chế độ XHCN và CSCN, mỗi người là một bộ phận của tập thể, giữ một vị trí nhất định và đóng góp một phần công lao trong xã hội. Cho nên lợi ích cá nhân nằm trong lợi ích của tập thể, là một bộ phận của lợi ích tập thể. Lợi ích chung của tập thể được bảo đảm thì lợi ích riêng của cá nhân mới có điều kiện để được thỏa mãn. CNXH là một chế độ xã hội mang tính nhân văn, nhân bản sâu sắc, hướng tới vì con người, cho con người, phát huy sức mạnh của con người cá nhân cũng như con người cộng đồng, ở đó cái tôi và cái chúng ta giao hòa với nhau.<br />
Để có được một chế độ XHCN như vậy, phải tập trung phát triển kinh tế, văn hóa trong đó kinh tế phải được ưu tiên hàng đầu, kinh tế là yếu tố quyết định sự thắng lợi của chế độ XHCN so với các chế độ xã hội khác. Người khẳng định tại Hội nghị đại biểu những người tích cực trong phong trào văn hóa quần chúng ngày 11-02-1960: Muốn tiến lên CNXH thì phải phát triển kinh tế và văn hóa. Vì sao không nói phát triển văn hóa và kinh tế? Tục ngữ ta có câu: Có thực mới vực được đạo, vì thế kinh tế phải đi trước. Nhấn mạnh vai trò của phát triển kinh tế với thắng lợi của chế độ XHCN, nói chuyện với nhân dân Thủ đô về thành công của Đại hội lần thứ XXI Đảng Cộng sản Liên xô tối 19-02-1959, Người khẳng định: “Tờ báo tư sản Mỹ Cộng hòa mới viết: “Liên Xô chọn kinh tế làm chiến trường, trên chiến trường ấy chủ nghĩa cộng sản sẽ thắng lợi”(7). Như vậy, nhìn nhận kinh tế như điểm mấu chốt của sự thắng lợi giữa chế độ xã hội này với chế độ xã hội khác, có thể thấy quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về CNXH là chủ nghĩa nhân đạo hiện thực, có tính khả thi. Tuy nhiên, dù là phát triển kinh tế hay văn hóa thì động lực chính ở đây vẫn không có cái gì khác ngoài sức mạnh của quần chúng nhân dân. Đảng, Nhà nước chỉ giữ vai trò của người lãnh đạo, quản lý, định hướng chứ không thể làm thay nhân dân: CNXH là do quần chúng nhân dân tự mình xây dựng nên. Đó là công trình tập thể của quần chúng dưới sự lãnh đạo của Đảng.<br />
Những nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về CNXH chính là kho báu vô giá của Đảng và nhân dân ta, định hướng cho sự phát triển của đất nước ta trong bối cảnh thế giới và trong nước có nhiều biến đổi. Kiên định con đường XHCN mà Đảng và Bác Hồ đã chọn, hướng tới mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, tăng cường các chính sách xã hội như xóa đói, giảm nghèo, nâng cao năng lực cho phụ nữ... chính là biểu hiện sinh động của việc triển khai tư tưởng Hồ Chí Minh về CNXH trong tình hình mới. Dù có biểu hiện dưới hình thái nào, thì điểm cốt lõi của việc vận dụng và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về CNXH là hướng tới xây dựng một xã hội tất cả vì con người, cho con người. Trong xã hội đó, con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển. Mục tiêu này vừa là đích tới, vừa là thước đo tính chất XHCN của tất cả các chủ trương, đường lối, chính sách phát triển của Đảng và Nhà nước ta./. <br />
------------------------------------------------------------<br />
(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia,Hà Nội 2000, t 4, tr 161<br />
(2) Hồ Chí Minh: Sđd, t 10, tr 127<br />
(3) Hồ Chí Minh: Sđd, t 9, tr 324<br />
(4) Hồ Chí Minh: Sđd, t 9, tr 291<br />
(5) Hồ Chí Minh: Sđd, t 10, tr 591<br />
(6) Hồ Chí Minh: Sđd, t 9, tr 323<br />
(7) Hồ Chí Minh: Sđd, t 9, tr 338</span></span></span> 		<br />
 		<span style="font-family: Verdana;" class="mycode_font"><span style="font-size: 2pt;" class="mycode_size"><span style="color: Black;" class="mycode_color"></span></span></span><div style="text-align: right;" class="mycode_align"><span style="font-family: Verdana;" class="mycode_font"><span style="font-size: 2pt;" class="mycode_size"><span style="color: Black;" class="mycode_color"><br />
<span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">Sưu Tầm</span><br />
</span></span></span></div>]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<span style="font-family: Verdana;" class="mycode_font"><span style="font-size: 2pt;" class="mycode_size"><span style="color: Black;" class="mycode_color">Tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội (CNXH) là một bộ phận quan trọng trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó là một nội dung rộng lớn. Trong phạm vi bài viết nhỏ này, chúng tôi chỉ xin đề cập một vài khía cạnh trong tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về CNXH.<br />
Trước hết phải khẳng định rằng: Hồ Chí Minh hướng tới CNXH là hướng tới tìm một con đường cứu nước mới sau khi tất cả các con đường khác đã thất bại. Khát vọng và “ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”(1) đã dẫn dắt Hồ Chí Minh trên hành trình bôn ba tìm kiếm con đường cứu nước giải phóng dân tộc, mang lại thống nhất, độc lập cho đất nước, tự do, hạnh phúc cho nhân dân - con đường cách mạng vô sản, gắn độc lập dân tộc với CNXH. Khi đọc Luận cương của Lê-nin về vấn đề dân tộc và thuộc địa, Người đã khẳng định: “Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta”(2). Chính tâm niệm và khát vọng lớn này của Hồ Chí Minh đã hướng Người lựa chọn con đường gắn độc lập dân tộc với CNXH.<br />
Thực tiễn cách mạng Việt Nam cho thấy, từ khi thành lập Đảng (năm 1930) đến năm 1954, nhiệm vụ chính trị trước mắt, có tính chất quyết định và được ưu tiên hàng đầu của cách mạng là đấu tranh chống thực dân xâm lược, giành độc lập tự do cho dân tộc. Chính vì thế, những vấn đề liên quan đến CNXH ít được đề cập trong các bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh ở giai đoạn này. Những nội dung về các vấn đề của CNXH chỉ thực sự được bàn tới một cách cụ thể và sâu sắc sau khi Cách mạng Tháng 8-1945 thành công, đặc biệt sau khi miền Bắc được giải phóng bước vào thời kỳ quá độ lên CNXH (năm 1954). <br />
Vào cuối những năm 80, đầu những năm 90 của thế kỷ XX, khi mô hình CNXH hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu rơi vào khủng hoảng và sụp đổ, các thế lực thù địch với Đảng Cộng sản Việt Nam đã lu loa lên rằng: Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã sai lầm ngay từ đầu khi đưa một học thuyết ra đời từ phương Tây (tức chủ nghĩa Mác - Lê-nin) áp dụng vào một nước phương Đông như Việt Nam v.v.. Đồng thời V.I.Lê-nin đã từng nhận định rằng hiện thời chủ nghĩa cộng sản (CNCS) chỉ có thể thắng lợi ở phương Tây, nhưng sau này với sự giúp đỡ của các nước đã tiến hành cách mạng XHCN, CNCS sẽ lan sang châu Á. Với nhãn quan chính trị rộng lớn của một bậc thiên tài, từ những năm 20 của thế kỷ XX, trước khi tiến hành truyền bá lý luận chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào Việt Nam, Hồ Chí Minh đã đặt ra câu hỏi CNCS có áp dụng được vào châu Á nói chung và ở Đông Dương nói riêng không?. Người khẳng định rằng mặc dù có nhiều chủ nghĩa khác nhau nhưng chỉ có chủ nghĩa Mác - Lê-nin là chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất, khoa học nhất. Hơn thế nữa, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn khẳng định trong bài báo “Đông Dương” tháng 5-1921: CNCS thâm nhập dễ dàng vào châu Á, dễ dàng hơn là ở châu Âu. Người đã chỉ ra các căn cứ đầy tính thuyết phục minh chứng cho khẳng định này. Ở nước ta có đầy đủ những tiền đề về tư tưởng, văn hóa, kinh tế, xã hội... bảo đảm cho một lý thuyết có nguồn gốc phương Tây - chủ nghĩa Mác - Lê-nin có thể được vận dụng thành công. Mặt khác, dù Người khẳng định chủ nghĩa Mác như “cẩm nang thần kỳ”, như “mặt trời soi sáng” nhưng ngay từ đầu Người đã có cách nhìn nhận rất biện chứng về học thuyết này: CNXH trước tiên là hướng tới tìm một con đường cứu nước. Chủ nghĩa Mác đến với Việt Nam không phải là một học thuyết như các học thuyết khác, mà như một công cụ giải phóng dân tộc, nhằm giải quyết những vấn đề thực tiễn lịch sử đang đặt ra là đánh đổ đế quốc, phong kiến giành độc lập, tự do cho đất nước. Mặt khác, trong điều kiện dân trí thấp kém của nước ta những năm đầu thế kỷ XX, với hơn 90% dân số là nông dân mà phần lớn lại mù chữ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những cách thức hết sức độc đáo mà hiệu quả để thể hiện những quan điểm của mình về CNXH. Quan điểm của Người về CNXH rất ngắn gọn, đơn giản, mộc mạc, nôm na, dễ hiểu, phù hợp với từng điều kiện, hoàn cảnh, từng đối tượng khác nhau. Người nói bằng tiếng nói của nhân dân để diễn đạt một trong những lý thuyết đầy tính bác học - lý thuyết về CNXH. Người không định nghĩa về CNXH với những tiêu chí đầy đủ, toàn diện, hoàn chỉnh của một mô hình lý tưởng được xây dựng sẵn để từ đó bắt thực tiễn phải khuôn theo. Hoạt động thực tiễn tới đâu thì nhận thức lý luận của Hồ Chí Minh về CNXH mở rộng ra tới đó. Dù Người không có một tác phẩm chuyên biệt nào bàn về CNXH nhưng tư tưởng về CNXH xuyên suốt trong nhiều tác phẩm của Hồ Chí Minh. Người có thể đưa ra định nghĩa về CNXH xét theo mục tiêu của CNXH hay theo các lĩnh vực cụ thể của đời sống xã hội. Người cũng có thể tiếp cận XHCN theo mục tiêu, con đường, cách thức, biện pháp, lực lượng xã hội tổ chức thực hiện... để đạt tới mục tiêu đó. Dù theo cách nào, thì tư tưởng Hồ Chí Minh về CNXH bao trùm lên tất cả là một chế độ xã hội hướng tới con người, cho con người, vì con người. Trong chế độ xã hội này, con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực mà xã hội đó hướng tới phục vụ lợi ích và phát huy sức mạnh. Có thể nhận thấy rõ tư tưởng bao trùm này qua một số quan niệm Người đưa ra để nhận diện chế độ XHCN.<br />
Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, CNXH là “thế giới của loài người” để phân biệt với thế giới cũ, không xứng đáng với con người theo nghĩa tốt đẹp, thế giới trong đó con người quan hệ với con người không theo lẽ công bằng, nhân đạo, thậm chí, thế giới của những sinh vật có hình dáng giống con người nhưng không phải con người. Xã hội thực dân kiểu cũ của Pháp ở Việt Nam là một điển hình của thế giới cũ đó, nơi con người “bị bịt mồm và bị giam hãm, bị làm cái đồ để tế ông thần tư bản”, nơi đó những con người bị xem như “bầy người”, họ “không biết suy nghĩ nữa” và “hoàn toàn vô dụng trong việc cải tạo xã hội”. Nói chuyện với cán bộ, sinh viên Việt Nam tại Mát-xcơ-va ngày 1-2-1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định xã hội XHCN là: “một thế giới xã hội chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa không có người bóc lột người, mọi người sung sướng, vẻ vang, tự do, bình đẳng, xứng đáng là thế giới của loài người”(3). <br />
Mục đích của CNXH là tất cả vì lợi ích của đông đảo những người lao động. Tư tưởng này được Hồ Chí Minh nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong những điều kiện, hoàn cảnh khác nhau, với những đối tượng hết sức khác nhau. Nói chuyện với nhân dân tỉnh Hải Ninh ngày 20-2-1960 khi miền Bắc đang tiến hành cuộc cách mạng XHCN, Người khẳng định: “CNXH là làm cho mọi người dân được sung sướng, ấm no”. Với Đại hội Đảng bộ thành phố Hà Nội ngày 20-6-1960, Người nói: “Mục đích của CNXH là không ngừng nâng cao mức sống của nhân dân”. Trong lời khai mạc Liên hoan anh hùng, chiến sĩ thi đua toàn quốc lần thứ 3 ngày 4-5-1962, Người phát biểu: “CNXH là nhằm nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân”. Cụ thể hơn, mục đích của CNXH là gì? Nói một cách giản đơn và dễ hiểu là không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, trước hết là nhân dân lao động. Như vậy, dù diễn đạt bằng các ngôn từ khác nhau, CNXH theo Hồ Chí Minh là một xã hội hướng tới phục vụ lợi ích vật chất và tinh thần của đông đảo những người lao động. Người lao động là những người sản xuất ra phần lớn của cải vật chất và tinh thần cho xã hội, bảo đảm sự tồn tại và phát triển của xã hội, vì vậy xét về lô-gic, họ phải được hưởng thụ một cách xứng đáng những giá trị mà họ tạo ra. Điều giản dị và dường như tất yếu đó không bao giờ xảy ra dưới chế độ TBCN hay các chế độ xã hội khác không phải là CNXH. Ở các chế độ xã hội đó, người lao động được hưởng phần rất nhỏ bé những giá trị xã hội mà họ tạo ra, còn phần lớn rơi vào tay những “ông chủ”, những kẻ thống trị. <br />
“Đời sống vật chất” ở đây được Người diễn đạt rất mộc mạc, bình dị, có khi là “cơm ăn, áo mặc”, có khi là “thoát nạn bần cùng, có công ăn việc làm, được ấm no”, có khi là “đủ ăn, đủ mặc, ngày càng sung sướng”. Ở mức độ cao hơn, đời sống vật chất của con người là những lợi ích cá nhân đúng đắn của họ. Năm 1958, bàn về đạo đức cách mạng, Người khẳng định: “Không có chế độ nào tôn trọng con người, chú ý xem xét những lợi ích cá nhân đúng đắn và bảo đảm cho nó được thỏa mãn bằng chế độ xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa. Trong xã hội có giai cấp bóc lột thống trị, chỉ có lợi ích cá nhân của một số rất ít người thuộc giai cấp thống trị là được thỏa mãn, còn lợi ích cá nhân của quần chúng lao động thì bị giày xéo”(4). <br />
Cũng như vậy, các cấp độ của đời sống tinh thần ngày càng tăng lên song cũng được thể hiện rất trực quan, giản dị. Có khi là “được học hành, có văn hóa cao, có đời sống tươi vui, hạnh phúc”, lúc khác dân giã hơn, mộc mạc hơn: “ai nấy được đi học, ốm đau có thuốc, già không lao động được thì nghỉ, những phong tục tập quán không tốt dần dần được xóa bỏ”(5). Đời sống tinh thần ở mức độ cao hơn là sự công bằng, bình đẳng: “Không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng”. Nhu cầu tinh thần này hay chính là cách thức phân phối những giá trị được tạo ra trong CNXH được Người khẳng định trong khi trả lời những câu hỏi của cử tri Hà Nội ngày 10-5-1958: CNXH là công bằng, hợp lý, làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm thì không được hưởng, những người già yếu hoặc tàn tật sẽ được nhà nước giúp đỡ chăm nom”. Ở mức độ cao hơn nữa, thước đo giá trị đời sống tinh thần là trạng thái dân chủ của xã hội đó. Chế độ XHCN và CSCN là chế độ do nhân dân lao động làm chủ. Đây là chế độ dân chủ nhân dân, dân chủ của số đông, nó khác biệt cơ bản về chất với các chế độ dân chủ của số ít đã từng tồn tại trong lịch sử như dân chủ chủ nô hay dân chủ tư sản. <br />
Như vậy, mục đích nâng cao đời sống của đông đảo nhân dân lao động về cả vật chất và tinh thần là tiêu chí tổng quát để khẳng định và kiểm nghiệm tính chất XHCN của các lý luận CNXH và các chính sách thực tiễn. Có thể thấy, những vấn đề mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt ra từ hàng nửa thế kỷ trước đây vẫn còn nguyên tính chất thời sự cho ngày hôm nay, khi mà tình cảnh nghèo đói của hàng trăm triệu người trên thế giới vẫn chưa được giải quyết, chưa có đường ra. Đó là vấn đề làm sao mang lại hạnh phúc cho số đông người lao động hay làm thế nào để khắc phục tình trạng nghèo đói, bệnh tật - những vấn đề mang tính chất toàn cầu. <br />
Như vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh về CNXH trước hết nhìn nhận con người như là mục tiêu quan trọng nhất của chế độ xã hội đó. Mặt khác, trong tư tưởng Hồ Chí Minh về CNXH, con người cũng được nhìn nhận như là động lực chính của cách mạng. Do đó “muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, cộng sản chủ nghĩa phải xây dựng con người xã hội chủ nghĩa, con người cộng sản chủ nghĩa. Muốn có con người xã hội chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa thì phải xây dựng tư tưởng xã hội chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa. Mà muốn có tư tưởng xã hội chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa thì phải gột sạch chủ nghĩa cá nhân... Mọi người đều phải có tư tưởng “mình vì mọi người, mọi người vì mình”(6). Người khẳng điều này năm 1959 khi miền Bắc đang bước vào thời kỳ quá độ lên CNXH. Con người XHCN phải là con người “vừa hồng, vừa chuyên”, vừa có đức, vừa có tài trong đó đạo đức phải là gốc rễ. Người từng nói: “Có tài mà không có đức là người vô dụng, có đức mà không có tài làm việc gì cũng khó!” Tuy nhiên, đức, tài không phải tự nhiên mà có, nó là sản phẩm của quá trình trau dồi, rèn luyện, học hành phấn đấu, nỗ lực của từng cá nhân dưới sự hậu thuẫn, trợ giúp của xã hội. Trong bài nói về đạo đức cách mạng đăng trên Tạp chí Học tập số 12-1958, Người khẳng định: Có gì sung sướng, vẻ vang hơn là trau dồi đạo đức cách mạng để góp phần xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng CNXH và giải phóng loài người”. Người đặc biệt nhấn mạnh: chướng ngại vật lớn trên con đường xây dựng CNXH chính là tư tưởng cá nhân chủ nghĩa, thắng lợi của CNXH không thể tách rời thắng lợi của cuộc đấu tranh trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân. Ngày 31-12-1958, nói chuyện với học sinh và giáo viên trường phổ thông cấp 3 Chu Văn An (Hà Nội), Hồ Chí Minh vạch rõ: Tư tưởng XHCN trái hẳn với tư tưởng cá nhân chủ nghĩa. Tuy nhiên, Người cũng phân biệt rất rõ chủ nghĩa cá nhân với những lợi ích cá nhân đúng đắn của con người, “Chống chủ nghĩa cá nhân không phải là giày xéo lên lợi ích cá nhân”. CNXH là một chế độ xã hội trong đó có sự hòa quyện một cách nhuần nhuyễn giữa cá nhân và tập thể, cá thể và cộng đồng, lợi ích cộng đồng được đề cao song không làm mất đi và lu mờ cái tôi của mỗi cá nhân. Trong chế độ XHCN và CSCN, mỗi người là một bộ phận của tập thể, giữ một vị trí nhất định và đóng góp một phần công lao trong xã hội. Cho nên lợi ích cá nhân nằm trong lợi ích của tập thể, là một bộ phận của lợi ích tập thể. Lợi ích chung của tập thể được bảo đảm thì lợi ích riêng của cá nhân mới có điều kiện để được thỏa mãn. CNXH là một chế độ xã hội mang tính nhân văn, nhân bản sâu sắc, hướng tới vì con người, cho con người, phát huy sức mạnh của con người cá nhân cũng như con người cộng đồng, ở đó cái tôi và cái chúng ta giao hòa với nhau.<br />
Để có được một chế độ XHCN như vậy, phải tập trung phát triển kinh tế, văn hóa trong đó kinh tế phải được ưu tiên hàng đầu, kinh tế là yếu tố quyết định sự thắng lợi của chế độ XHCN so với các chế độ xã hội khác. Người khẳng định tại Hội nghị đại biểu những người tích cực trong phong trào văn hóa quần chúng ngày 11-02-1960: Muốn tiến lên CNXH thì phải phát triển kinh tế và văn hóa. Vì sao không nói phát triển văn hóa và kinh tế? Tục ngữ ta có câu: Có thực mới vực được đạo, vì thế kinh tế phải đi trước. Nhấn mạnh vai trò của phát triển kinh tế với thắng lợi của chế độ XHCN, nói chuyện với nhân dân Thủ đô về thành công của Đại hội lần thứ XXI Đảng Cộng sản Liên xô tối 19-02-1959, Người khẳng định: “Tờ báo tư sản Mỹ Cộng hòa mới viết: “Liên Xô chọn kinh tế làm chiến trường, trên chiến trường ấy chủ nghĩa cộng sản sẽ thắng lợi”(7). Như vậy, nhìn nhận kinh tế như điểm mấu chốt của sự thắng lợi giữa chế độ xã hội này với chế độ xã hội khác, có thể thấy quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về CNXH là chủ nghĩa nhân đạo hiện thực, có tính khả thi. Tuy nhiên, dù là phát triển kinh tế hay văn hóa thì động lực chính ở đây vẫn không có cái gì khác ngoài sức mạnh của quần chúng nhân dân. Đảng, Nhà nước chỉ giữ vai trò của người lãnh đạo, quản lý, định hướng chứ không thể làm thay nhân dân: CNXH là do quần chúng nhân dân tự mình xây dựng nên. Đó là công trình tập thể của quần chúng dưới sự lãnh đạo của Đảng.<br />
Những nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về CNXH chính là kho báu vô giá của Đảng và nhân dân ta, định hướng cho sự phát triển của đất nước ta trong bối cảnh thế giới và trong nước có nhiều biến đổi. Kiên định con đường XHCN mà Đảng và Bác Hồ đã chọn, hướng tới mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, tăng cường các chính sách xã hội như xóa đói, giảm nghèo, nâng cao năng lực cho phụ nữ... chính là biểu hiện sinh động của việc triển khai tư tưởng Hồ Chí Minh về CNXH trong tình hình mới. Dù có biểu hiện dưới hình thái nào, thì điểm cốt lõi của việc vận dụng và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về CNXH là hướng tới xây dựng một xã hội tất cả vì con người, cho con người. Trong xã hội đó, con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển. Mục tiêu này vừa là đích tới, vừa là thước đo tính chất XHCN của tất cả các chủ trương, đường lối, chính sách phát triển của Đảng và Nhà nước ta./. <br />
------------------------------------------------------------<br />
(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia,Hà Nội 2000, t 4, tr 161<br />
(2) Hồ Chí Minh: Sđd, t 10, tr 127<br />
(3) Hồ Chí Minh: Sđd, t 9, tr 324<br />
(4) Hồ Chí Minh: Sđd, t 9, tr 291<br />
(5) Hồ Chí Minh: Sđd, t 10, tr 591<br />
(6) Hồ Chí Minh: Sđd, t 9, tr 323<br />
(7) Hồ Chí Minh: Sđd, t 9, tr 338</span></span></span> 		<br />
 		<span style="font-family: Verdana;" class="mycode_font"><span style="font-size: 2pt;" class="mycode_size"><span style="color: Black;" class="mycode_color"></span></span></span><div style="text-align: right;" class="mycode_align"><span style="font-family: Verdana;" class="mycode_font"><span style="font-size: 2pt;" class="mycode_size"><span style="color: Black;" class="mycode_color"><br />
<span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">Sưu Tầm</span><br />
</span></span></span></div>]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[Những nguyên lí của chủ nghĩa Mác-Lênin về triễn vọng cuả chủ nghĩa hiện thực]]></title>
			<link>https://dd.sinhvienhoahoc.net/thread-993.html</link>
			<pubDate>Fri, 29 Jan 2010 11:15:45 +0700</pubDate>
			<dc:creator><![CDATA[<a href="https://dd.sinhvienhoahoc.net/member.php?action=profile&uid=2">08HH</a>]]></dc:creator>
			<guid isPermaLink="false">https://dd.sinhvienhoahoc.net/thread-993.html</guid>
			<description><![CDATA[<span style="font-family: Verdana;" class="mycode_font"><span style="font-size: 2pt;" class="mycode_size"><span style="color: Black;" class="mycode_color">III. TRIỂN VỌNG CỦA CHỦ NGHĨA XÃ HỘI<br />
  <span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">1. Chủ nghĩa tư bản không phải là tương lai của xã hội loài người</span><br />
  <span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">a. Bản chất của chủ nghĩa tư bản không thay đổi</span><br />
  C.Mác và Ph.Ăngghen đã từng đánh giá rất cao vai trò lịch sử của giai cấp tư sản và chủ nghĩa tư bản. Trong tác phẩm Tuyên ngôn của đảng cộng sản, các ông viết “giai cấp tư sản đã đóng vai trò hết sức cách mạng trong lịch sử”; song các ông cũng dự báo và chứng minh những dự báo của mình “sự sụp đổ của giai cấp tư sản và sự thắng lợi của giai cấp vô sản đều là tất yếu như nhau”.<br />
  Vận dụng quan điểm, phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin trong tác phẩm “Chủ nghĩa đế quốc giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản” chỉ ra những mâu thuẫn, xu hướng vận động của chủ nghĩa tư bản đến chủ nghĩa đế quốc là giai đoạn “tột cùng”, ăn bám và giãy chết và là phòng chờ của chủ nghĩa xã hội. Nhưng tình hình thực tế trong mấy thập niên vừa qua, chủ nghĩa tư bản ngày nay phát triển rất mạnh do biết tự điều chỉnh và thích ứng, biết tìm bí quyết để sống lại từ con đường cùng. Chủ nghĩa tư bản còn khả năng để phát triển nhưng bản chất của chủ nghĩa tư bản thì không thay đổi, những mâu thuẫn của chủ nghĩa tư bản, bản thân nó không thể khắc phục nổi, đó là tình trạng khủng hoảng kinh tế, ngoài khủng hoảng mang tính chu kỳ ra còn có khủng hoảng cơ cấu, khủng hoảng thể chế, khủng hoảng tài chính tiền tệ v.v. Các loại khủng hoảng và những khó khăn của chủ nghĩa tư bản đã dẫn tới hàng loạt vấn đề xã hội nảy sinh như tình trạng thất nghiệp, nghèo khó và chênh lệch giàu nghèo xã hội, mâu thuẫn dân tộc tăng lên, trật tự xã hội hỗn loạn, hoạt động tội phạm gia tăng v.v. Chủ nghĩa tư bản ngày nay dù đã có những điều chỉnh nhưng vẫn là “một thế giới không thể chấp nhận” như Renê Duynông khẳng định trong cuốn sách của mình.<br />
  <span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">b. Các yếu tố xã hội chủ nghĩa đang nảy sinh trong lòng chủ nghĩa tư bản</span><br />
  Theo quan điểm của C.Mác “sự thay thế của các hình thái kinh tế-xã hội là một quá trình lịch sử-tự nhiên”. Chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội với tư cách là hai hình thái kinh tế xã hội khác nhau, kế tiếp nhau, xã hội trước tất yếu bị xã hội sau thay thế, xã hội sau vừa phủ nhận xã hội trước vừa kế thừa và phát triển những thành tựu mà xã hội trước tạo ra. Chủ nghĩa tư bản ngày nay đã phát triển đến giai đoạn cao nhất của nó- chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước- đã gần với chủ nghĩa xã hội hơn. Theo V.I. Lênin chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước là sự chuẩn bị đầy đủ nhất cho chủ nghĩa xã hội, là giai đoạn trước của chủ nghĩa xã hội. Chủ nghĩa tư bản ngày nay đã tạo ra nền sản xuất lớn với khoa học công nghệ ngày càng hiện đại, sự phát triển xã hội hoá sản xuất đang “nẩy mầm” những nhân tố của chủ nghĩa xã hội. Sự xuất hiện những công ty cổ phần trong phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, sự tăng lên của nó và những nhân tố xã hội chủ nghĩa khác có nghĩa là sự phát triển của quá trình lịch sử tự nhiên trong đó chủ nghĩa tư bản bắt đầu quá độ sang phương thức sản xuất mới. Trong xã hội tư bản hiện đại, về mặt sở hữu, sự xuất hiện quốc hữu hoá, chế độ hợp tác, công ty cổ phần, nhà nước đóng vai trò điều tiết quản lý về vốn, nguồn lao động tham gia quản lý xí nghiệp ở mức độ khác nhau, sự rút ngắn khoảng cách giữa thành thị và nông thôn, lao động trí óc với lao động chân tay, tính dân chủ và xã hội của nhà nước tăng lên v.v tất cả những cái đó nếu không nói đó là những nhân tố của chủ nghĩa xã hội ở mức độ nhất định, thì đó cũng là sự chuẩn bị điều kiện vật chất cho chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên điều đó vẫn chưa vượt ra khỏi cái khung tư bản chủ nghĩa, sự biến đổi về lượng chưa chuyển thành sự biến đổi về chất, vẫn là chủ nghĩa tư bản.<br />
  <span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">c.Tính đa dạng các xu hướng phát triển của thế giới đương đại</span><br />
  Sau cách mạng Tháng Mười nhất là từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, với sự tồn tại hai hệ thống kinh tế xã hội đối lập nhau đã tác động đến sự lựa chọn con đường phát triển của các dân tộc.<br />
  Ở các nước vốn trước đây là thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc sau khi giành độc lập đã, đang lựa chọn con đường phát triển của dân tộc mình. Con đường tư bản tư nghĩa trong những điều kiện nhất định đã đem lại những thành công cho một số nước còn phần lớn cách nước khác không thoát khỏi đói nghèo, nợ nần chồng chất.<br />
  Ngay ở các nước tư bản phát triển cũng nảy sinh xu hướng phát triển “phi tư bản”, “hậu tư bản”, xu hướng xã hội dân chủ v.v điều này chứng tỏ chủ nghĩa tư bản không phải là “xã hội tốt đẹp cuối cùng”, không phải là tương lai của loài người mà nó sẽ phải bị thay thế.<br />
  <span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">2. Chủ nghĩa xã hội- tương lai của xã hội loài người</span><br />
  <span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">a. Sự sụp đổ của Liênxô và các nước Đông Âu không có nghĩa là sự cáo chung của chủ nghĩa xã hội</span><br />
  Cuối những năm 80 đầu những năm 90 của thế kỷ XX, sự kiện Liênxô, Đông Âu sụp đổ, phong trào xã hội chủ nghĩa thế giới bị tổn thất nghiêm trọng. Kẻ thù thì vội vã vui mừng cho đó là sự cáo chung của chủ nghĩa xã hội, sự cáo chung của chủ nghĩa Mác, còn người dân cũng không khỏi hoang mang bối rối. Sự thật, sự tan rã của Liên xô, Đông Âu không phải là sự thất bại của chế độ và nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa xã hội mà chỉ là sự thất bại của một mô hình thực tiễn nhất định. Mô hình chủ nghĩa xã hội kiểu Liênxô, mô hình chủ nghĩa xã hội cứng nhắc, nó không đồng nghĩa với sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội với tính cách là một hình thái kinh tế-xã hội mà loài người đang vươn tới. Sự sụp đổ của Liênxô và Đông Âu cũng không vì thế mà thay đổi nội dung, tính chất của thời đại. Thời đại ngày nay vẫn là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, sự tan rã của chủ nghĩa xã hội ở Liênxô và Đông Âu chỉ chứng tỏ tính quanh co, phức tạp của sự phát triển xã hội mà thôi.<br />
  <span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">b. Các nước xã hội chủ nghĩa còn lại tiến hành cải cách mở cửa, đổi mới và ngày càng thu được những thành tựu to lớn</span><br />
  Trong bối cảnh Liênxô và các nước xẫ hội chủ nghĩa Đông Âu sụp đổ, thì ở một số nước xã hội chủ nghĩa khác điển hình là Trung Quốc và Việt Nam đã tiến hành đổi mới, cải cách mở cửa thành công, đã đưa đất nước vượt qua khó khăn khủng hoảng và đạt được những thành tựu to lớn. Trên cơ sở kiên trì, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước mình, trong qua trình đổi mới, cải cách, mở cửa đã giữ vững nguyên tắc, đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với nhà nước và xã hội. Để giữ vững vai trò lãnh đạo, Đảng phải tự đổi mới theo hướng dân chủ, khoa học phù hợp với điều kiện cụ thể của nước mình.<br />
   Đã từ bỏ mô hình kinh tế kế hoạch tập trung chuyển sang kinh tế thị trường, thừa nhận sự tồn tại của các thành phần kinh tế, đa dạng hoá các hình thức sở hữu, lấy hình thức phân phối theo lao động là nguyên tắc chủ yếu. Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa phù hợp với điều kiện hội nhập quốc tế. Nhà nước quản lí vĩ mô, giảm dần sự can thiệp vi mô, thực hiện chế độ dân chủ, công khai minh bạch. Xác định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là con đường khó khăn lâu dài, trải qua nhiều giai đoạn.<br />
  Sau hơn 30 năm (1978) cải cách, mở cửa của Trung Quốc, hơn 20 năm (1986) đổi mới ở Việt Nam, Trung Quốc và Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, được cộng đồng quốc tế thừa nhận và đánh giá cao, vị thế của Trung Quốc và Việt Nam ngày càng được thế giới tôn trọng. Thành công của cải cách, mở cửa của Trung Quốc, đổi mới ở Việt Nam cũng là thắng lợi của chủ nghĩa Mác-Lênin, của chủ nghĩa xã hội.<br />
  <span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">c. Sự xuất hiện xu hướng đi lên chủ nghĩa xã hội ở các nước Mỹ Latinh</span><br />
  Cùng với những thành công của công cuộc cải cách, đổi mới của Trung Quốc và Việt Nam, sự hồi phục của các Đảng Cộng sản ở các nước xã hội chủ nghĩa trước đây, ở Mỹ Latinh đã xuất hiện xu hướng thiên tả từ những năm 90 của thế kỷ XX và hiện nay không ngừng lớn mạnh. Thông qua bầu cử các lực lượng dân chủ, tiến bộ đã thành lập được chính phủ lên cầm quyền ở các nước Mỹ Latinh như Vênêzuala, Nicaragoa, Bôlivia, Braxin, Acgentina v.v nhiều nước đã tuyên bố lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa. Mô hình chủ nghĩa xã hội nhiều nước Mỹ Latinh lựa chọn tạo thành mô hình “chủ nghĩa xã hội Mỹ Latinh thế kỷ XXI”, mô hình này về đại thể có những nội dung cơ bản là Về tư tưởng, lấy chủ nghĩa Mác, tư tưởng tiến bộ của Ximôn Bôlivia, tư tưởng nhân đạo thiên chúa giáo làm nền tảng. Về chính trị, nhấn mạnh tư tưởng “dân chủ cách mạng” và chính quyền nhân dân, xây dựng mô hình xã hội theo đó nhân dân tham gia vào công việc của nhà nước, thực hiện công bằng xã hội. Về kinh tế, chủ trương thực hiện kinh tế nhiều thành phần trong đó kinh tế nhà nước và hợp tác giữ vai trò chủ đạo, giành lại chủ quyền dân tộc đối với tài nguyên thiên nhiên đặc biệt là dầu mỏ, nước sạch v.v thực hiện công bằng, giải quyết vấn đề bất bình đẳng và phân hoá xã hội. Về đối ngoại, thúc đẩy khối đại đoàn kết Mỹ Latinh và quan hệ hữu nghị với tất cả các nước, lấy hợp tác thay thế cạnh tranh, đấu tranh cho một thế giới đa cực dân chủ, chú trọng kinh nghiệm quốc tế của các nước xã hội chủ nghĩa như Cu Ba, Việt Nam, Trung Quốc. Mô hình chủ nghĩa xã hội Mỹ Latinh tuy còn điểm này điểm khác, còn tiếp tục được nghiên cứu, theo dõi, nhưng với sự xuất hiện mô hình đó chứng tỏ sức sống và khả năng phát triển của chủ nghĩa xã hội và lòng tin vào lý tưởng cộng sản chủ nghĩa của nhân dân lao động.<br />
  Tóm lại, tình hình thế giới đang vận động rất phức tạp, những diễn biến từ sau cách mạng Tháng Mười Nga đến nay cũng chứng tỏ dù phải trải qua những bước quanh co phức tạp nhưng loài người nhất định tiến tới chủ nghĩa xã hội, đó cũng chính là quy luật vận động khách quan của lịch sử.<br />
<br />
</span></span></span><div style="text-align: right;" class="mycode_align"><span style="font-family: Verdana;" class="mycode_font"><span style="font-size: 2pt;" class="mycode_size"><span style="color: Black;" class="mycode_color"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">Sưu Tầm</span></span></span></span><br />
</div>]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<span style="font-family: Verdana;" class="mycode_font"><span style="font-size: 2pt;" class="mycode_size"><span style="color: Black;" class="mycode_color">III. TRIỂN VỌNG CỦA CHỦ NGHĨA XÃ HỘI<br />
  <span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">1. Chủ nghĩa tư bản không phải là tương lai của xã hội loài người</span><br />
  <span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">a. Bản chất của chủ nghĩa tư bản không thay đổi</span><br />
  C.Mác và Ph.Ăngghen đã từng đánh giá rất cao vai trò lịch sử của giai cấp tư sản và chủ nghĩa tư bản. Trong tác phẩm Tuyên ngôn của đảng cộng sản, các ông viết “giai cấp tư sản đã đóng vai trò hết sức cách mạng trong lịch sử”; song các ông cũng dự báo và chứng minh những dự báo của mình “sự sụp đổ của giai cấp tư sản và sự thắng lợi của giai cấp vô sản đều là tất yếu như nhau”.<br />
  Vận dụng quan điểm, phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin trong tác phẩm “Chủ nghĩa đế quốc giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản” chỉ ra những mâu thuẫn, xu hướng vận động của chủ nghĩa tư bản đến chủ nghĩa đế quốc là giai đoạn “tột cùng”, ăn bám và giãy chết và là phòng chờ của chủ nghĩa xã hội. Nhưng tình hình thực tế trong mấy thập niên vừa qua, chủ nghĩa tư bản ngày nay phát triển rất mạnh do biết tự điều chỉnh và thích ứng, biết tìm bí quyết để sống lại từ con đường cùng. Chủ nghĩa tư bản còn khả năng để phát triển nhưng bản chất của chủ nghĩa tư bản thì không thay đổi, những mâu thuẫn của chủ nghĩa tư bản, bản thân nó không thể khắc phục nổi, đó là tình trạng khủng hoảng kinh tế, ngoài khủng hoảng mang tính chu kỳ ra còn có khủng hoảng cơ cấu, khủng hoảng thể chế, khủng hoảng tài chính tiền tệ v.v. Các loại khủng hoảng và những khó khăn của chủ nghĩa tư bản đã dẫn tới hàng loạt vấn đề xã hội nảy sinh như tình trạng thất nghiệp, nghèo khó và chênh lệch giàu nghèo xã hội, mâu thuẫn dân tộc tăng lên, trật tự xã hội hỗn loạn, hoạt động tội phạm gia tăng v.v. Chủ nghĩa tư bản ngày nay dù đã có những điều chỉnh nhưng vẫn là “một thế giới không thể chấp nhận” như Renê Duynông khẳng định trong cuốn sách của mình.<br />
  <span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">b. Các yếu tố xã hội chủ nghĩa đang nảy sinh trong lòng chủ nghĩa tư bản</span><br />
  Theo quan điểm của C.Mác “sự thay thế của các hình thái kinh tế-xã hội là một quá trình lịch sử-tự nhiên”. Chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội với tư cách là hai hình thái kinh tế xã hội khác nhau, kế tiếp nhau, xã hội trước tất yếu bị xã hội sau thay thế, xã hội sau vừa phủ nhận xã hội trước vừa kế thừa và phát triển những thành tựu mà xã hội trước tạo ra. Chủ nghĩa tư bản ngày nay đã phát triển đến giai đoạn cao nhất của nó- chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước- đã gần với chủ nghĩa xã hội hơn. Theo V.I. Lênin chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước là sự chuẩn bị đầy đủ nhất cho chủ nghĩa xã hội, là giai đoạn trước của chủ nghĩa xã hội. Chủ nghĩa tư bản ngày nay đã tạo ra nền sản xuất lớn với khoa học công nghệ ngày càng hiện đại, sự phát triển xã hội hoá sản xuất đang “nẩy mầm” những nhân tố của chủ nghĩa xã hội. Sự xuất hiện những công ty cổ phần trong phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, sự tăng lên của nó và những nhân tố xã hội chủ nghĩa khác có nghĩa là sự phát triển của quá trình lịch sử tự nhiên trong đó chủ nghĩa tư bản bắt đầu quá độ sang phương thức sản xuất mới. Trong xã hội tư bản hiện đại, về mặt sở hữu, sự xuất hiện quốc hữu hoá, chế độ hợp tác, công ty cổ phần, nhà nước đóng vai trò điều tiết quản lý về vốn, nguồn lao động tham gia quản lý xí nghiệp ở mức độ khác nhau, sự rút ngắn khoảng cách giữa thành thị và nông thôn, lao động trí óc với lao động chân tay, tính dân chủ và xã hội của nhà nước tăng lên v.v tất cả những cái đó nếu không nói đó là những nhân tố của chủ nghĩa xã hội ở mức độ nhất định, thì đó cũng là sự chuẩn bị điều kiện vật chất cho chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên điều đó vẫn chưa vượt ra khỏi cái khung tư bản chủ nghĩa, sự biến đổi về lượng chưa chuyển thành sự biến đổi về chất, vẫn là chủ nghĩa tư bản.<br />
  <span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">c.Tính đa dạng các xu hướng phát triển của thế giới đương đại</span><br />
  Sau cách mạng Tháng Mười nhất là từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, với sự tồn tại hai hệ thống kinh tế xã hội đối lập nhau đã tác động đến sự lựa chọn con đường phát triển của các dân tộc.<br />
  Ở các nước vốn trước đây là thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc sau khi giành độc lập đã, đang lựa chọn con đường phát triển của dân tộc mình. Con đường tư bản tư nghĩa trong những điều kiện nhất định đã đem lại những thành công cho một số nước còn phần lớn cách nước khác không thoát khỏi đói nghèo, nợ nần chồng chất.<br />
  Ngay ở các nước tư bản phát triển cũng nảy sinh xu hướng phát triển “phi tư bản”, “hậu tư bản”, xu hướng xã hội dân chủ v.v điều này chứng tỏ chủ nghĩa tư bản không phải là “xã hội tốt đẹp cuối cùng”, không phải là tương lai của loài người mà nó sẽ phải bị thay thế.<br />
  <span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">2. Chủ nghĩa xã hội- tương lai của xã hội loài người</span><br />
  <span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">a. Sự sụp đổ của Liênxô và các nước Đông Âu không có nghĩa là sự cáo chung của chủ nghĩa xã hội</span><br />
  Cuối những năm 80 đầu những năm 90 của thế kỷ XX, sự kiện Liênxô, Đông Âu sụp đổ, phong trào xã hội chủ nghĩa thế giới bị tổn thất nghiêm trọng. Kẻ thù thì vội vã vui mừng cho đó là sự cáo chung của chủ nghĩa xã hội, sự cáo chung của chủ nghĩa Mác, còn người dân cũng không khỏi hoang mang bối rối. Sự thật, sự tan rã của Liên xô, Đông Âu không phải là sự thất bại của chế độ và nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa xã hội mà chỉ là sự thất bại của một mô hình thực tiễn nhất định. Mô hình chủ nghĩa xã hội kiểu Liênxô, mô hình chủ nghĩa xã hội cứng nhắc, nó không đồng nghĩa với sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội với tính cách là một hình thái kinh tế-xã hội mà loài người đang vươn tới. Sự sụp đổ của Liênxô và Đông Âu cũng không vì thế mà thay đổi nội dung, tính chất của thời đại. Thời đại ngày nay vẫn là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, sự tan rã của chủ nghĩa xã hội ở Liênxô và Đông Âu chỉ chứng tỏ tính quanh co, phức tạp của sự phát triển xã hội mà thôi.<br />
  <span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">b. Các nước xã hội chủ nghĩa còn lại tiến hành cải cách mở cửa, đổi mới và ngày càng thu được những thành tựu to lớn</span><br />
  Trong bối cảnh Liênxô và các nước xẫ hội chủ nghĩa Đông Âu sụp đổ, thì ở một số nước xã hội chủ nghĩa khác điển hình là Trung Quốc và Việt Nam đã tiến hành đổi mới, cải cách mở cửa thành công, đã đưa đất nước vượt qua khó khăn khủng hoảng và đạt được những thành tựu to lớn. Trên cơ sở kiên trì, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước mình, trong qua trình đổi mới, cải cách, mở cửa đã giữ vững nguyên tắc, đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với nhà nước và xã hội. Để giữ vững vai trò lãnh đạo, Đảng phải tự đổi mới theo hướng dân chủ, khoa học phù hợp với điều kiện cụ thể của nước mình.<br />
   Đã từ bỏ mô hình kinh tế kế hoạch tập trung chuyển sang kinh tế thị trường, thừa nhận sự tồn tại của các thành phần kinh tế, đa dạng hoá các hình thức sở hữu, lấy hình thức phân phối theo lao động là nguyên tắc chủ yếu. Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa phù hợp với điều kiện hội nhập quốc tế. Nhà nước quản lí vĩ mô, giảm dần sự can thiệp vi mô, thực hiện chế độ dân chủ, công khai minh bạch. Xác định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là con đường khó khăn lâu dài, trải qua nhiều giai đoạn.<br />
  Sau hơn 30 năm (1978) cải cách, mở cửa của Trung Quốc, hơn 20 năm (1986) đổi mới ở Việt Nam, Trung Quốc và Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, được cộng đồng quốc tế thừa nhận và đánh giá cao, vị thế của Trung Quốc và Việt Nam ngày càng được thế giới tôn trọng. Thành công của cải cách, mở cửa của Trung Quốc, đổi mới ở Việt Nam cũng là thắng lợi của chủ nghĩa Mác-Lênin, của chủ nghĩa xã hội.<br />
  <span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">c. Sự xuất hiện xu hướng đi lên chủ nghĩa xã hội ở các nước Mỹ Latinh</span><br />
  Cùng với những thành công của công cuộc cải cách, đổi mới của Trung Quốc và Việt Nam, sự hồi phục của các Đảng Cộng sản ở các nước xã hội chủ nghĩa trước đây, ở Mỹ Latinh đã xuất hiện xu hướng thiên tả từ những năm 90 của thế kỷ XX và hiện nay không ngừng lớn mạnh. Thông qua bầu cử các lực lượng dân chủ, tiến bộ đã thành lập được chính phủ lên cầm quyền ở các nước Mỹ Latinh như Vênêzuala, Nicaragoa, Bôlivia, Braxin, Acgentina v.v nhiều nước đã tuyên bố lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa. Mô hình chủ nghĩa xã hội nhiều nước Mỹ Latinh lựa chọn tạo thành mô hình “chủ nghĩa xã hội Mỹ Latinh thế kỷ XXI”, mô hình này về đại thể có những nội dung cơ bản là Về tư tưởng, lấy chủ nghĩa Mác, tư tưởng tiến bộ của Ximôn Bôlivia, tư tưởng nhân đạo thiên chúa giáo làm nền tảng. Về chính trị, nhấn mạnh tư tưởng “dân chủ cách mạng” và chính quyền nhân dân, xây dựng mô hình xã hội theo đó nhân dân tham gia vào công việc của nhà nước, thực hiện công bằng xã hội. Về kinh tế, chủ trương thực hiện kinh tế nhiều thành phần trong đó kinh tế nhà nước và hợp tác giữ vai trò chủ đạo, giành lại chủ quyền dân tộc đối với tài nguyên thiên nhiên đặc biệt là dầu mỏ, nước sạch v.v thực hiện công bằng, giải quyết vấn đề bất bình đẳng và phân hoá xã hội. Về đối ngoại, thúc đẩy khối đại đoàn kết Mỹ Latinh và quan hệ hữu nghị với tất cả các nước, lấy hợp tác thay thế cạnh tranh, đấu tranh cho một thế giới đa cực dân chủ, chú trọng kinh nghiệm quốc tế của các nước xã hội chủ nghĩa như Cu Ba, Việt Nam, Trung Quốc. Mô hình chủ nghĩa xã hội Mỹ Latinh tuy còn điểm này điểm khác, còn tiếp tục được nghiên cứu, theo dõi, nhưng với sự xuất hiện mô hình đó chứng tỏ sức sống và khả năng phát triển của chủ nghĩa xã hội và lòng tin vào lý tưởng cộng sản chủ nghĩa của nhân dân lao động.<br />
  Tóm lại, tình hình thế giới đang vận động rất phức tạp, những diễn biến từ sau cách mạng Tháng Mười Nga đến nay cũng chứng tỏ dù phải trải qua những bước quanh co phức tạp nhưng loài người nhất định tiến tới chủ nghĩa xã hội, đó cũng chính là quy luật vận động khách quan của lịch sử.<br />
<br />
</span></span></span><div style="text-align: right;" class="mycode_align"><span style="font-family: Verdana;" class="mycode_font"><span style="font-size: 2pt;" class="mycode_size"><span style="color: Black;" class="mycode_color"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">Sưu Tầm</span></span></span></span><br />
</div>]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[Tư tưởng quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân của Hồ Chí Minh]]></title>
			<link>https://dd.sinhvienhoahoc.net/thread-992.html</link>
			<pubDate>Fri, 29 Jan 2010 11:15:32 +0700</pubDate>
			<dc:creator><![CDATA[<a href="https://dd.sinhvienhoahoc.net/member.php?action=profile&uid=2">08HH</a>]]></dc:creator>
			<guid isPermaLink="false">https://dd.sinhvienhoahoc.net/thread-992.html</guid>
			<description><![CDATA[<span style="font-family: Verdana;" class="mycode_font"><span style="font-size: 2pt;" class="mycode_size"><span style="color: Black;" class="mycode_color">Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước là một tài sản quý giá trong di sản cách mạng của Người. Nó chứa đựng những giá trị to lớn cả về phương diện lý luận và thực tiễn đối với cách mạng Việt Nam nói chung, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta nói riêng. <br />
Hồ Chí Minh là người cộng sản Việt Nam đầu tiên đã lĩnh hội những nội dung cốt lõi trong học thuyết cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, trong đó, có vấn đề nhà nước và quyền lực nhà nước; mặt khác, là người am hiểu sâu sắc văn hóa chính trị phương Đông và Việt Nam, với một trí tuệ phi thường, Hồ Chí Minh đã kế thừa, vận dụng và phát triển sáng tạo những tinh hoa tư tưởng của nhân loại trên cơ sở những yêu cầu của thực tiễn cách mạng Việt Nam và từ đó xây dựng nên những tư tưởng của riêng mình với những nét độc đáo hiếm thấy.<br />
Tìm hiểu tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về nhà nước cần xuất phát từ hạt nhân tư tưởng về quyền lực và chủ thể quyền lực nhà nước, từ đó triển khai thành các tư tưởng về cơ chế tổ chức và vận hành quyền lực nhà nước. <br />
Ngay từ những năm 20 (thế kỷ XX), Hồ Chí Minh đã phê phán một cách quyết liệt bản chất của bộ máy nhà nước thực dân. Người vạch trần bản chất xấu xa của chế độ thực dân đế quốc bên trong cái vỏ hào nhoáng khai hóa văn minh trước công luận; và qua đó, Người chuẩn bị cho mình những cơ sở lý luận và thực tiễn để hình thành nên tư tưởng về một nhà nước kiểu mới, thật sự dân chủ. Điều này thể hiện rõ trong tác phẩm Đường Kách mệnh - giáo khoa thư chính trị đầu tiên của cách mạng Việt Nam. Người viết: "Chúng ta đã hy sinh làm cách mệnh, thì nên làm cho đến nơi, nghĩa là làm sao cách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một bọn ít người. Thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế dân chúng mới hạnh phúc"(1). Quan điểm quyền lực chính trị thuộc về nhân dân và phục vụ cho lợi ích của nhân dân là cốt lõi và xuyên suốt trong tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước. Tất cả những nhận thức đó tiếp tục được phát triển không ngừng trong tư tưởng của Người gắn liền với những chặng đường tiếp theo của cách mạng Việt Nam.<br />
Người thường dùng khái niệm "ủy thác" để nói đến việc nhân dân trao một phần quyền lực của mình cho nhà nước. Quyền lực của nhà nước từ Trung ương đến địa phương, từ Chủ tịch nước đến cán bộ xã đều do nhân dân "ủy thác" cho. Khi hết một nhiệm kỳ, Chính phủ sẽ phải trao lại quyền cho nhân dân và nhân dân sẽ trao quyền ấy cho một Chính phủ ở nhiệm kỳ mới do dân "tuyển cử". Các khái niệm "ủy thác", "giao quyền" là những khái niệm chính trị học và ở Hồ Chí Minh, các khái niệm ấy gắn chặt với nhân dân, là sự khẳng định quyền lực thuộc về nhân dân.<br />
Người còn thường xuyên gắn cụm từ nhân dân với các khái niệm Nhà nước, Chính phủ, Quốc hội, v.v.. Ví dụ, trong giai đoạn 1945 - 1946, các cụm từ "Nhà nước nhân dân", "Chính phủ nhân dân" có tần số xuất hiện rất cao trong các bài viết, bài nói của Người. Những cụm từ này được Người sử dụng với đối tượng là các cán bộ nhà nước các cấp và đặc biệt là với nhân dân. Sự khẳng định đó nhắc nhở các cán bộ nhà nước phải luôn ghi nhớ quyền hạn và trách nhiệm của mình cũng như giáo dục cho nhân dân về một địa vị hoàn toàn mới của họ.<br />
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước, tư tưởng về dân chủ - với ý nghĩa là bản chất của quyền lực nhà nước và phương thức tổ chức, triển khai quyền lực nhà nước là một nét đặc sắc. Theo Người, dân chủ hiểu một cách chung nhất là quyền lực chính trị thuộc về nhân dân. Ở nước ta, chính quyền là của nhân dân, do nhân dân làm chủ; và, "Nhân dân là ông chủ nắm chính quyền. Nhân dân bầu ra đại biểu thay mặt mình thi hành chính quyền ấy. Thế là dân chủ"(2).<br />
Địa vị làm chủ của người dân, tức là quan hệ của người dân với quyền lực nhà nước, được Hồ Chí Minh làm rõ trong quan hệ với đội ngũ cán bộ nhà nước - những người trực tiếp thi hành quyền lực nhà nước. Người viết: Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ. Trong bộ máy cách mạng, từ người quét nhà, nấu ăn cho đến Chủ tịch nước đều là phân công làm đày tớ cho dân. Người căn dặn cán bộ nhà nước: Phải nhớ rằng dân là chủ. Dân như nước, mình như cá. Lực lượng bao nhiêu là nhờ ở dân hết. Khi nói tới tư cách công bộc của cán bộ nhà nước đối với nhân dân, Hồ Chí Minh khẳng định, mục đích hoạt động của họ là vì lợi ích chung. Người nói: Những người trúng cử (vào bộ máy nhà nước), sẽ phải ra sức giữ vững nền độc lập của Tổ quốc, ra sức mưu sự hạnh phúc cho đồng bào. Phải luôn luôn nhớ và thực hành câu: Vì lợi nước, quên lợi nhà; vì lợi chung, quên lợi riêng. Người khẳng định: Làm việc nước bây giờ là hy sinh, là phấn đấu, quên lợi riêng mà nghĩ lợi chung. Những ai muốn làm quan cách mạng thì nhất định không nên bầu. Nếu dân là chủ thì nhà nước, cán bộ nhà nước là công bộc của dân. Đây là một sáng tạo độc đáo của Hồ Chí Minh. Chính tư tưởng này đã chỉ rõ sự đối lập về chất của Nhà nước nhân dân với nhà nước phong kiến, nhà nước thực dân. Người căn dặn các cán bộ nhà nước phải luôn ghi nhớ rằng các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc đến các làng đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh vác việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của thực dân Pháp, phát xít Nhật. Ở đây, ta thấy Hồ Chí Minh đã chỉ ra nội hàm của khái niệm "công bộc của dân", và có thể hiểu đây là một định nghĩa của Hồ Chí Minh về chức năng của Nhà nước mà ý nghĩa sâu sắc của nó vẫn còn giữ nguyên tính thời sự và cần được quán triệt trong công cuộc xây dựng Nhà nước ta hiện nay.<br />
Hồ Chí Minh đòi hỏi rất cao đối với cán bộ nhà nước. Họ cần phải có rất nhiều phẩm chất, song tựu trung họ phải thực sự vì dân mà làm việc. Người nêu rõ bốn đức tính là: cần, kiệm, liêm, chính; phải ghi sâu những chữ công bình chính trực vào lòng; phải có một tinh thần chí công vô tư; nếu muốn danh, lợi thì danh làm sao cho dân tộc mình có danh với thế giới, và lợi làm thế nào cho tranh được lợi với thế giới - đó là danh chính và lợi chính...<br />
Cán bộ nhà nước phải làm sao để nhân dân yêu quý, khi sắp tới dân mong, khi đi dân nhớ. Muốn thế trước hết cán bộ phải yêu quý nhân dân, phải đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết, phải kính trọng nhân dân, tôn trọng nhân cách của họ. Người chỉ rõ: Muốn được dân yêu, muốn được lòng dân, việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh. Phải chú ý giải quyết các vấn đề, đặc biệt là những vấn đề quan hệ đến đời sống nhân dân, dầu khó khăn đến đâu cũng mặc lòng. Nói tóm lại, hết thảy những việc có thể nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của dân phải được đặc biệt chú ý.<br />
Khái niệm dân chủ còn được Hồ Chí Minh làm rõ trong quan hệ của nó với khái niệm chuyên chính. Người viết: "Dân chủ là của quý báu nhất của nhân dân, chuyên chính là cái khóa, cái cửa để đề phòng kẻ phá hoại, nếu hòm không có khóa, nhà không có cửa thì sẽ mất cắp hết. Cho nên có cửa phải có khóa, có nhà phải có cửa. Thế thì dân chủ cũng cần phải có chuyên chính để giữ gìn lấy dân chủ"(3); và, "Nhà nước ta cũng là nhà nước của đại đa số nhân dân, để thống trị thiểu số phản động, để giữ gìn lợi ích của nhân dân, bằng cách dân chủ chuyên chính của nhân dân"(4).<br />
Tư tưởng về dân chủ của Hồ Chí Minh được xây dựng trên cơ sở nhận thức về sức mạnh vô địch của nhân dân. Người viết: Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân. Và, Người đã đưa ra một quan điểm toàn diện về dân chủ: NƯỚC TA LÀ NƯỚC DÂN CHỦ: Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân. Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân. Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân cử ra. Đoàn thể từ trung ương đến xã do dân tổ chức nên. Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân. <br />
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, nhân dân với tư cách là chủ thể quyền lực nhà nước được hiểu là toàn thể nhân dân chỉ trừ bọn phản quốc hại dân. Người viết: Chính phủ này là Chính phủ toàn quốc, có đủ nhân tài Trung, Nam, Bắc tham gia. Xuất phát từ yêu thương quý trọng nhân dân, Người thấy rõ nguồn sức mạnh vô tận của khối đại đoàn kết dân tộc, mọi mưu đồ đề cao lợi ích vị kỷ của một bộ phận người đi ra ngoài con đường của cả dân tộc hoặc sẽ bị đào thải, hoặc sẽ làm tổn hại đến khối đại đoàn kết mà kết quả đều làm cho đất nước lâm nguy. Người chỉ rõ, phải thực hiện cho được khối đại đoàn kết dân tộc. Chỉ có thế, nhân dân mới có đủ sức mạnh để giành, giữ và thực thi quyền lực của mình, trong đó có quyền lực nhà nước.<br />
Hồ Chí Minh cho rằng, quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân gắn liền với việc nhà nước phải làm tất cả để đem lại một cuộc sống hạnh phúc cho nhân dân.<br />
Xuất phát từ tư tưởng nhân dân là chủ thể của quyền lực chính trị, tư tưởng dân chủ của Hồ Chí Minh được phát triển thành nhân dân là chủ thể của nhà nước. Vì thế, việc nhận thức tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước phải được đặt trên cơ sở coi vấn đề nhà nước là một khía cạnh trong tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ. Nhà nước, theo Người, là của nhân dân "Nhà nước ta phát huy dân chủ đến cao độ, đó là do tính chất Nhà nước ta là Nhà nước của nhân dân. Có phát huy dân chủ đến cao độ thì mới động viên được tất cả lực lượng của nhân dân đưa cách mạng tiến lên. Đồng thời phải tập trung đến cao độ để thống nhất lãnh đạo nhân dân xây dựng chủ nghĩa xã hội"(5). Nhân dân sử dụng Nhà nước như một công cụ để thực hiện lợi ích của mình: đối với nhân dân, thì công cụ của nhà nước dân chủ mới (Chính phủ, pháp luật, công an, quân đội, v.v..) là để giữ gìn quyền lợi của nhân dân.<br />
Khi bàn về vai trò của Nhà nước, Hồ Chí Minh đã đưa ra quan điểm về nhân dân quản lý nhà nước. Điều đáng lưu ý là, việc nhà nước tiến hành các hoạt động nhằm mục đích phục vụ lợi ích của nhân dân, thì đồng thời, đó cũng chính là nhằm tạo điều kiện để nhân dân có thể tham gia quản lý nhà nước. Người viết: "... chỉ có chế độ của chúng ta mới thật sự phục vụ lợi ích của nhân dân, trước hết là nhân dân lao động, bảo đảm mọi quyền lợi của nhân dân, mở rộng dân chủ để nhân dân thật sự tham gia quản lý Nhà nước. Vì vậy cho nên nhân dân ta đưa hết khả năng làm tròn nhiệm vụ người chủ nước nhà để xây dựng chủ nghĩa xã hội, làm cho nước ta mạnh, dân ta giàu"(6). <br />
Tư tưởng quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân của Hồ Chí Minh còn thể hiện trên mấy phương diện sau: <br />
Thứ nhất, về pháp luật, Người viết: Pháp luật của chúng ta hiện nay bảo vệ quyền lợi cho hàng triệu người lao động. Pháp luật của ta lúc này, chưa tước bỏ quyền tư hữu, nhưng không ai được lợi dụng quyền tư hữu để bóc lột thậm tệ nhân dân lao động. Pháp luật của ta là pháp luật thật sự dân chủ, vì nó bảo vệ quyền tự do, dân chủ rộng rãi cho nhân dân lao động. Người khẳng định, "Phép luật là phép luật của nhân dân, dùng để ngăn cản những hành động có hại cho nhân dân, để bảo vệ lợi ích chung của đại đa số nhân dân"(7). Vì vậy, để có một "chính quyền trong sạch", phải kiên quyết trừng trị những kẻ lợi dụng việc được nhân dân giao quyền, rồi cậy quyền cậy thế đi ngược lại lợi ích của nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cương quyết xử lý một số cán bộ cao cấp của Nhà nước vi phạm pháp luật và Người luôn nhắc nhở: Chúng ta không sợ sai lầm, nhưng đã nhận biết sai lầm thì phải ra sức sửa chữa. Vậy nên, ai không phạm những lầm lỗi trên này, thì nên chú ý tránh đi, và gắng sức cho thêm tiến bộ. Ai đã phạm những lỗi lầm trên này, thì phải hết sức sửa chữa; nếu không tự sửa chữa thì Chính phủ sẽ không khoan dung.<br />
Thứ hai, về tổ chức bộ máy nhà nước, Hồ Chí Minh nhiều lần nêu ra quan điểm về ba bộ phận cấu thành quan trọng của Nhà nước, đó là cơ quan lập pháp - Quốc hội; cơ quan hành pháp - Chính phủ và cơ quan tư pháp - Tòa án. Trong đó, Người nói đến Chính phủ nhiều nhất và cũng chính ở đây chứa đựng nhiều quan điểm có ý nghĩa to lớn về mặt lý luận và thực tiễn. Người viết: "Chính phủ ta là chính phủ của nhân dân, chỉ có một mục đích là ra sức phụng sự lợi ích của nhân dân. Chính phủ rất mong đồng bào giúp đỡ, đôn đốc, kiểm soát và phê bình để làm trọn nhiệm vụ của mình là người đày tớ trung thành tận tụy của nhân dân"(8). Người khẳng định: "Chế độ của ta là chế độ dân chủ. Nhân dân là chủ. Chính phủ là đày tớ của nhân dân. Nhân dân có quyền đôn đốc và phê bình Chính phủ. Chính phủ thì việc to việc nhỏ đều nhằm mục đích phục vụ lợi ích của nhân dân. Vì vậy, nhân dân lại có nhiệm vụ giúp đỡ Chính phủ, theo đúng kỷ luật của Chính phủ và làm đúng chính sách của Chính phủ, để Chính phủ làm tròn phận sự mà nhân dân đã giao phó cho"(9).<br />
Kế thừa những giá trị trong tư tưởng chính trị truyền thống của dân tộc, lại được soi sáng bởi quan điểm duy của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, Hồ Chí Minh thấy ở nhân dân một lực lượng vô tận. Trong tư tưởng về nhà nước, nhân dân chiếm một vị trí cực kỳ quan trọng. Hồ Chí Minh tin tưởng vào sức mạnh to lớn của nhân dân, sức mạnh ấy một khi được tập hợp, tổ chức, định hướng sẽ tạo nên những kỳ tích to lớn, có thể làm thay đổi hoàn toàn bộ mặt lịch sử. Lịch sử cách mạng Việt Nam đã chứng minh niềm tin ấy của Hồ Chí Minh là hoàn toàn đúng đắn.<br />
Cái quan trọng nhất trong chính trị là vấn đề thiết chế chính quyền nhà nước. Quyền lực chính trị là vấn đề trung tâm của mọi cuộc cách mạng xã hội. Ở Hồ Chí Minh, nhà nước là nhà nước của dân, do dân và vì dân; quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Như thế, với Hồ Chí Minh, Nhà nước không bao giờ đứng ngoài và đứng trên nhân dân.<br />
Gắn chính trị với lòng dân cũng có nghĩa là Hồ Chí Minh đã gắn chính trị với cơ sở xã hội sâu xa và bền vững của nó. Một quan niệm "đem chính trị vào giữa dân gian" như tư tưởng của Người là một quan niệm chính trị dân chủ về bản chất. Đã quan niệm chính trị như thế thì nhà chính trị nói riêng, nhà nước nói chung trở nên đầy sức mạnh bởi họ đang suy nghĩ bằng suy nghĩ của nhân dân, làm bằng phương thức nhân dân và nói tiếng nói của nhân dân. Họ sẽ có đủ bản lĩnh đương đầu với mọi khó khăn mà luôn chắc chắn một niềm tin vào chiến thắng.<br />
Quan điểm chính trị nhân dân ở Hồ Chí Minh gắn liền với việc làm cho người dân có đủ khả năng đảm nhận vai trò làm chủ của mình. Người đặc biệt coi trọng việc giáo dục nhân dân. Ngay khi Nhà nước ta mới ra đời, Người khẳng định: Chúng ta có nhiệm vụ cấp bách là phải giáo dục lại nhân dân chúng ta. Chúng ta phải làm cho dân tộc chúng ta trở nên một dân tộc dũng cảm, yêu nước, yêu lao động, một dân tộc xứng đáng với nước Việt Nam độc lập. Người đề nghị mở một chiến dịch giáo dục lại tinh thần nhân dân bằng cách thực hiện: Cần, Kiệm, Liêm, Chính. Người cũng yêu cầu nhân dân: Mọi người Việt Nam phải biết quyền lợi của mình, phải có kiến thức để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà. Hồ Chí Minh yêu cầu người dân trước hết phải biết đọc, biết viết để có thể tham gia vào công việc nhà nước. Điều này có nghĩa là, người dân muốn thực hiện vai trò làm chủ của mình, muốn thực hiện quyền lực cao quý của mình cần phải có những năng lực nhất định và Nhà nước phải làm sao để nhân dân có được những năng lực ấy. <br />
Như vậy, trên cơ sở vận dụng học thuyết Mác - Lê-nin về nhà nước vào điều kiện cụ thể của cách mạng và xã hội Việt Nam, đặc biệt là, trên cơ sở nghiên cứu và tổng kết thực tiễn xây dựng chính quyền nhân dân, xây dựng chế độ xã hội mới, Hồ Chí Minh đã nêu ra một hệ thống các quan điểm về nhà nước kiểu mới ở Việt Nam. Đây thực sự là những chỉ dẫn quý báu cả về lý luận và thực tiễn đối với công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay. <br />
<br />
------------------<br />
(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, t 2, tr 270<br />
(2) Hồ Chí Minh: Sđd, t 7, tr 218 - 219<br />
(3) Hồ Chí Minh: Sđd, t 8, tr 279 - 280<br />
(4) Hồ Chí Minh: Sđd, t 7, tr 216 - 217<br />
(5), (6) Hồ Chí Minh: Sđd, t 9, tr 592, tr 593<br />
(7) Hồ Chí Minh: Sđd, t 7, tr 453<br />
(8) Hồ Chí Minh: Sđd, t 7, tr 361 - 362<br />
(9) Hồ Chí Minh: Sđd, t 7, tr 368</span></span></span>]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<span style="font-family: Verdana;" class="mycode_font"><span style="font-size: 2pt;" class="mycode_size"><span style="color: Black;" class="mycode_color">Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước là một tài sản quý giá trong di sản cách mạng của Người. Nó chứa đựng những giá trị to lớn cả về phương diện lý luận và thực tiễn đối với cách mạng Việt Nam nói chung, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta nói riêng. <br />
Hồ Chí Minh là người cộng sản Việt Nam đầu tiên đã lĩnh hội những nội dung cốt lõi trong học thuyết cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, trong đó, có vấn đề nhà nước và quyền lực nhà nước; mặt khác, là người am hiểu sâu sắc văn hóa chính trị phương Đông và Việt Nam, với một trí tuệ phi thường, Hồ Chí Minh đã kế thừa, vận dụng và phát triển sáng tạo những tinh hoa tư tưởng của nhân loại trên cơ sở những yêu cầu của thực tiễn cách mạng Việt Nam và từ đó xây dựng nên những tư tưởng của riêng mình với những nét độc đáo hiếm thấy.<br />
Tìm hiểu tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về nhà nước cần xuất phát từ hạt nhân tư tưởng về quyền lực và chủ thể quyền lực nhà nước, từ đó triển khai thành các tư tưởng về cơ chế tổ chức và vận hành quyền lực nhà nước. <br />
Ngay từ những năm 20 (thế kỷ XX), Hồ Chí Minh đã phê phán một cách quyết liệt bản chất của bộ máy nhà nước thực dân. Người vạch trần bản chất xấu xa của chế độ thực dân đế quốc bên trong cái vỏ hào nhoáng khai hóa văn minh trước công luận; và qua đó, Người chuẩn bị cho mình những cơ sở lý luận và thực tiễn để hình thành nên tư tưởng về một nhà nước kiểu mới, thật sự dân chủ. Điều này thể hiện rõ trong tác phẩm Đường Kách mệnh - giáo khoa thư chính trị đầu tiên của cách mạng Việt Nam. Người viết: "Chúng ta đã hy sinh làm cách mệnh, thì nên làm cho đến nơi, nghĩa là làm sao cách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một bọn ít người. Thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế dân chúng mới hạnh phúc"(1). Quan điểm quyền lực chính trị thuộc về nhân dân và phục vụ cho lợi ích của nhân dân là cốt lõi và xuyên suốt trong tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước. Tất cả những nhận thức đó tiếp tục được phát triển không ngừng trong tư tưởng của Người gắn liền với những chặng đường tiếp theo của cách mạng Việt Nam.<br />
Người thường dùng khái niệm "ủy thác" để nói đến việc nhân dân trao một phần quyền lực của mình cho nhà nước. Quyền lực của nhà nước từ Trung ương đến địa phương, từ Chủ tịch nước đến cán bộ xã đều do nhân dân "ủy thác" cho. Khi hết một nhiệm kỳ, Chính phủ sẽ phải trao lại quyền cho nhân dân và nhân dân sẽ trao quyền ấy cho một Chính phủ ở nhiệm kỳ mới do dân "tuyển cử". Các khái niệm "ủy thác", "giao quyền" là những khái niệm chính trị học và ở Hồ Chí Minh, các khái niệm ấy gắn chặt với nhân dân, là sự khẳng định quyền lực thuộc về nhân dân.<br />
Người còn thường xuyên gắn cụm từ nhân dân với các khái niệm Nhà nước, Chính phủ, Quốc hội, v.v.. Ví dụ, trong giai đoạn 1945 - 1946, các cụm từ "Nhà nước nhân dân", "Chính phủ nhân dân" có tần số xuất hiện rất cao trong các bài viết, bài nói của Người. Những cụm từ này được Người sử dụng với đối tượng là các cán bộ nhà nước các cấp và đặc biệt là với nhân dân. Sự khẳng định đó nhắc nhở các cán bộ nhà nước phải luôn ghi nhớ quyền hạn và trách nhiệm của mình cũng như giáo dục cho nhân dân về một địa vị hoàn toàn mới của họ.<br />
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước, tư tưởng về dân chủ - với ý nghĩa là bản chất của quyền lực nhà nước và phương thức tổ chức, triển khai quyền lực nhà nước là một nét đặc sắc. Theo Người, dân chủ hiểu một cách chung nhất là quyền lực chính trị thuộc về nhân dân. Ở nước ta, chính quyền là của nhân dân, do nhân dân làm chủ; và, "Nhân dân là ông chủ nắm chính quyền. Nhân dân bầu ra đại biểu thay mặt mình thi hành chính quyền ấy. Thế là dân chủ"(2).<br />
Địa vị làm chủ của người dân, tức là quan hệ của người dân với quyền lực nhà nước, được Hồ Chí Minh làm rõ trong quan hệ với đội ngũ cán bộ nhà nước - những người trực tiếp thi hành quyền lực nhà nước. Người viết: Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ. Trong bộ máy cách mạng, từ người quét nhà, nấu ăn cho đến Chủ tịch nước đều là phân công làm đày tớ cho dân. Người căn dặn cán bộ nhà nước: Phải nhớ rằng dân là chủ. Dân như nước, mình như cá. Lực lượng bao nhiêu là nhờ ở dân hết. Khi nói tới tư cách công bộc của cán bộ nhà nước đối với nhân dân, Hồ Chí Minh khẳng định, mục đích hoạt động của họ là vì lợi ích chung. Người nói: Những người trúng cử (vào bộ máy nhà nước), sẽ phải ra sức giữ vững nền độc lập của Tổ quốc, ra sức mưu sự hạnh phúc cho đồng bào. Phải luôn luôn nhớ và thực hành câu: Vì lợi nước, quên lợi nhà; vì lợi chung, quên lợi riêng. Người khẳng định: Làm việc nước bây giờ là hy sinh, là phấn đấu, quên lợi riêng mà nghĩ lợi chung. Những ai muốn làm quan cách mạng thì nhất định không nên bầu. Nếu dân là chủ thì nhà nước, cán bộ nhà nước là công bộc của dân. Đây là một sáng tạo độc đáo của Hồ Chí Minh. Chính tư tưởng này đã chỉ rõ sự đối lập về chất của Nhà nước nhân dân với nhà nước phong kiến, nhà nước thực dân. Người căn dặn các cán bộ nhà nước phải luôn ghi nhớ rằng các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc đến các làng đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh vác việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của thực dân Pháp, phát xít Nhật. Ở đây, ta thấy Hồ Chí Minh đã chỉ ra nội hàm của khái niệm "công bộc của dân", và có thể hiểu đây là một định nghĩa của Hồ Chí Minh về chức năng của Nhà nước mà ý nghĩa sâu sắc của nó vẫn còn giữ nguyên tính thời sự và cần được quán triệt trong công cuộc xây dựng Nhà nước ta hiện nay.<br />
Hồ Chí Minh đòi hỏi rất cao đối với cán bộ nhà nước. Họ cần phải có rất nhiều phẩm chất, song tựu trung họ phải thực sự vì dân mà làm việc. Người nêu rõ bốn đức tính là: cần, kiệm, liêm, chính; phải ghi sâu những chữ công bình chính trực vào lòng; phải có một tinh thần chí công vô tư; nếu muốn danh, lợi thì danh làm sao cho dân tộc mình có danh với thế giới, và lợi làm thế nào cho tranh được lợi với thế giới - đó là danh chính và lợi chính...<br />
Cán bộ nhà nước phải làm sao để nhân dân yêu quý, khi sắp tới dân mong, khi đi dân nhớ. Muốn thế trước hết cán bộ phải yêu quý nhân dân, phải đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết, phải kính trọng nhân dân, tôn trọng nhân cách của họ. Người chỉ rõ: Muốn được dân yêu, muốn được lòng dân, việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh. Phải chú ý giải quyết các vấn đề, đặc biệt là những vấn đề quan hệ đến đời sống nhân dân, dầu khó khăn đến đâu cũng mặc lòng. Nói tóm lại, hết thảy những việc có thể nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của dân phải được đặc biệt chú ý.<br />
Khái niệm dân chủ còn được Hồ Chí Minh làm rõ trong quan hệ của nó với khái niệm chuyên chính. Người viết: "Dân chủ là của quý báu nhất của nhân dân, chuyên chính là cái khóa, cái cửa để đề phòng kẻ phá hoại, nếu hòm không có khóa, nhà không có cửa thì sẽ mất cắp hết. Cho nên có cửa phải có khóa, có nhà phải có cửa. Thế thì dân chủ cũng cần phải có chuyên chính để giữ gìn lấy dân chủ"(3); và, "Nhà nước ta cũng là nhà nước của đại đa số nhân dân, để thống trị thiểu số phản động, để giữ gìn lợi ích của nhân dân, bằng cách dân chủ chuyên chính của nhân dân"(4).<br />
Tư tưởng về dân chủ của Hồ Chí Minh được xây dựng trên cơ sở nhận thức về sức mạnh vô địch của nhân dân. Người viết: Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân. Và, Người đã đưa ra một quan điểm toàn diện về dân chủ: NƯỚC TA LÀ NƯỚC DÂN CHỦ: Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân. Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân. Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân cử ra. Đoàn thể từ trung ương đến xã do dân tổ chức nên. Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân. <br />
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, nhân dân với tư cách là chủ thể quyền lực nhà nước được hiểu là toàn thể nhân dân chỉ trừ bọn phản quốc hại dân. Người viết: Chính phủ này là Chính phủ toàn quốc, có đủ nhân tài Trung, Nam, Bắc tham gia. Xuất phát từ yêu thương quý trọng nhân dân, Người thấy rõ nguồn sức mạnh vô tận của khối đại đoàn kết dân tộc, mọi mưu đồ đề cao lợi ích vị kỷ của một bộ phận người đi ra ngoài con đường của cả dân tộc hoặc sẽ bị đào thải, hoặc sẽ làm tổn hại đến khối đại đoàn kết mà kết quả đều làm cho đất nước lâm nguy. Người chỉ rõ, phải thực hiện cho được khối đại đoàn kết dân tộc. Chỉ có thế, nhân dân mới có đủ sức mạnh để giành, giữ và thực thi quyền lực của mình, trong đó có quyền lực nhà nước.<br />
Hồ Chí Minh cho rằng, quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân gắn liền với việc nhà nước phải làm tất cả để đem lại một cuộc sống hạnh phúc cho nhân dân.<br />
Xuất phát từ tư tưởng nhân dân là chủ thể của quyền lực chính trị, tư tưởng dân chủ của Hồ Chí Minh được phát triển thành nhân dân là chủ thể của nhà nước. Vì thế, việc nhận thức tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước phải được đặt trên cơ sở coi vấn đề nhà nước là một khía cạnh trong tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ. Nhà nước, theo Người, là của nhân dân "Nhà nước ta phát huy dân chủ đến cao độ, đó là do tính chất Nhà nước ta là Nhà nước của nhân dân. Có phát huy dân chủ đến cao độ thì mới động viên được tất cả lực lượng của nhân dân đưa cách mạng tiến lên. Đồng thời phải tập trung đến cao độ để thống nhất lãnh đạo nhân dân xây dựng chủ nghĩa xã hội"(5). Nhân dân sử dụng Nhà nước như một công cụ để thực hiện lợi ích của mình: đối với nhân dân, thì công cụ của nhà nước dân chủ mới (Chính phủ, pháp luật, công an, quân đội, v.v..) là để giữ gìn quyền lợi của nhân dân.<br />
Khi bàn về vai trò của Nhà nước, Hồ Chí Minh đã đưa ra quan điểm về nhân dân quản lý nhà nước. Điều đáng lưu ý là, việc nhà nước tiến hành các hoạt động nhằm mục đích phục vụ lợi ích của nhân dân, thì đồng thời, đó cũng chính là nhằm tạo điều kiện để nhân dân có thể tham gia quản lý nhà nước. Người viết: "... chỉ có chế độ của chúng ta mới thật sự phục vụ lợi ích của nhân dân, trước hết là nhân dân lao động, bảo đảm mọi quyền lợi của nhân dân, mở rộng dân chủ để nhân dân thật sự tham gia quản lý Nhà nước. Vì vậy cho nên nhân dân ta đưa hết khả năng làm tròn nhiệm vụ người chủ nước nhà để xây dựng chủ nghĩa xã hội, làm cho nước ta mạnh, dân ta giàu"(6). <br />
Tư tưởng quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân của Hồ Chí Minh còn thể hiện trên mấy phương diện sau: <br />
Thứ nhất, về pháp luật, Người viết: Pháp luật của chúng ta hiện nay bảo vệ quyền lợi cho hàng triệu người lao động. Pháp luật của ta lúc này, chưa tước bỏ quyền tư hữu, nhưng không ai được lợi dụng quyền tư hữu để bóc lột thậm tệ nhân dân lao động. Pháp luật của ta là pháp luật thật sự dân chủ, vì nó bảo vệ quyền tự do, dân chủ rộng rãi cho nhân dân lao động. Người khẳng định, "Phép luật là phép luật của nhân dân, dùng để ngăn cản những hành động có hại cho nhân dân, để bảo vệ lợi ích chung của đại đa số nhân dân"(7). Vì vậy, để có một "chính quyền trong sạch", phải kiên quyết trừng trị những kẻ lợi dụng việc được nhân dân giao quyền, rồi cậy quyền cậy thế đi ngược lại lợi ích của nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cương quyết xử lý một số cán bộ cao cấp của Nhà nước vi phạm pháp luật và Người luôn nhắc nhở: Chúng ta không sợ sai lầm, nhưng đã nhận biết sai lầm thì phải ra sức sửa chữa. Vậy nên, ai không phạm những lầm lỗi trên này, thì nên chú ý tránh đi, và gắng sức cho thêm tiến bộ. Ai đã phạm những lỗi lầm trên này, thì phải hết sức sửa chữa; nếu không tự sửa chữa thì Chính phủ sẽ không khoan dung.<br />
Thứ hai, về tổ chức bộ máy nhà nước, Hồ Chí Minh nhiều lần nêu ra quan điểm về ba bộ phận cấu thành quan trọng của Nhà nước, đó là cơ quan lập pháp - Quốc hội; cơ quan hành pháp - Chính phủ và cơ quan tư pháp - Tòa án. Trong đó, Người nói đến Chính phủ nhiều nhất và cũng chính ở đây chứa đựng nhiều quan điểm có ý nghĩa to lớn về mặt lý luận và thực tiễn. Người viết: "Chính phủ ta là chính phủ của nhân dân, chỉ có một mục đích là ra sức phụng sự lợi ích của nhân dân. Chính phủ rất mong đồng bào giúp đỡ, đôn đốc, kiểm soát và phê bình để làm trọn nhiệm vụ của mình là người đày tớ trung thành tận tụy của nhân dân"(8). Người khẳng định: "Chế độ của ta là chế độ dân chủ. Nhân dân là chủ. Chính phủ là đày tớ của nhân dân. Nhân dân có quyền đôn đốc và phê bình Chính phủ. Chính phủ thì việc to việc nhỏ đều nhằm mục đích phục vụ lợi ích của nhân dân. Vì vậy, nhân dân lại có nhiệm vụ giúp đỡ Chính phủ, theo đúng kỷ luật của Chính phủ và làm đúng chính sách của Chính phủ, để Chính phủ làm tròn phận sự mà nhân dân đã giao phó cho"(9).<br />
Kế thừa những giá trị trong tư tưởng chính trị truyền thống của dân tộc, lại được soi sáng bởi quan điểm duy của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, Hồ Chí Minh thấy ở nhân dân một lực lượng vô tận. Trong tư tưởng về nhà nước, nhân dân chiếm một vị trí cực kỳ quan trọng. Hồ Chí Minh tin tưởng vào sức mạnh to lớn của nhân dân, sức mạnh ấy một khi được tập hợp, tổ chức, định hướng sẽ tạo nên những kỳ tích to lớn, có thể làm thay đổi hoàn toàn bộ mặt lịch sử. Lịch sử cách mạng Việt Nam đã chứng minh niềm tin ấy của Hồ Chí Minh là hoàn toàn đúng đắn.<br />
Cái quan trọng nhất trong chính trị là vấn đề thiết chế chính quyền nhà nước. Quyền lực chính trị là vấn đề trung tâm của mọi cuộc cách mạng xã hội. Ở Hồ Chí Minh, nhà nước là nhà nước của dân, do dân và vì dân; quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Như thế, với Hồ Chí Minh, Nhà nước không bao giờ đứng ngoài và đứng trên nhân dân.<br />
Gắn chính trị với lòng dân cũng có nghĩa là Hồ Chí Minh đã gắn chính trị với cơ sở xã hội sâu xa và bền vững của nó. Một quan niệm "đem chính trị vào giữa dân gian" như tư tưởng của Người là một quan niệm chính trị dân chủ về bản chất. Đã quan niệm chính trị như thế thì nhà chính trị nói riêng, nhà nước nói chung trở nên đầy sức mạnh bởi họ đang suy nghĩ bằng suy nghĩ của nhân dân, làm bằng phương thức nhân dân và nói tiếng nói của nhân dân. Họ sẽ có đủ bản lĩnh đương đầu với mọi khó khăn mà luôn chắc chắn một niềm tin vào chiến thắng.<br />
Quan điểm chính trị nhân dân ở Hồ Chí Minh gắn liền với việc làm cho người dân có đủ khả năng đảm nhận vai trò làm chủ của mình. Người đặc biệt coi trọng việc giáo dục nhân dân. Ngay khi Nhà nước ta mới ra đời, Người khẳng định: Chúng ta có nhiệm vụ cấp bách là phải giáo dục lại nhân dân chúng ta. Chúng ta phải làm cho dân tộc chúng ta trở nên một dân tộc dũng cảm, yêu nước, yêu lao động, một dân tộc xứng đáng với nước Việt Nam độc lập. Người đề nghị mở một chiến dịch giáo dục lại tinh thần nhân dân bằng cách thực hiện: Cần, Kiệm, Liêm, Chính. Người cũng yêu cầu nhân dân: Mọi người Việt Nam phải biết quyền lợi của mình, phải có kiến thức để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà. Hồ Chí Minh yêu cầu người dân trước hết phải biết đọc, biết viết để có thể tham gia vào công việc nhà nước. Điều này có nghĩa là, người dân muốn thực hiện vai trò làm chủ của mình, muốn thực hiện quyền lực cao quý của mình cần phải có những năng lực nhất định và Nhà nước phải làm sao để nhân dân có được những năng lực ấy. <br />
Như vậy, trên cơ sở vận dụng học thuyết Mác - Lê-nin về nhà nước vào điều kiện cụ thể của cách mạng và xã hội Việt Nam, đặc biệt là, trên cơ sở nghiên cứu và tổng kết thực tiễn xây dựng chính quyền nhân dân, xây dựng chế độ xã hội mới, Hồ Chí Minh đã nêu ra một hệ thống các quan điểm về nhà nước kiểu mới ở Việt Nam. Đây thực sự là những chỉ dẫn quý báu cả về lý luận và thực tiễn đối với công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay. <br />
<br />
------------------<br />
(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, t 2, tr 270<br />
(2) Hồ Chí Minh: Sđd, t 7, tr 218 - 219<br />
(3) Hồ Chí Minh: Sđd, t 8, tr 279 - 280<br />
(4) Hồ Chí Minh: Sđd, t 7, tr 216 - 217<br />
(5), (6) Hồ Chí Minh: Sđd, t 9, tr 592, tr 593<br />
(7) Hồ Chí Minh: Sđd, t 7, tr 453<br />
(8) Hồ Chí Minh: Sđd, t 7, tr 361 - 362<br />
(9) Hồ Chí Minh: Sđd, t 7, tr 368</span></span></span>]]></content:encoded>
		</item>
	</channel>
</rss>